Trang 2 của 8 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 40 của 145

Chủ đề: Lao là gì?

  1. #21
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    I. LAO KÊ:

    1. Đại cương:
    - Là thể lao cấp tính của lao tản mạn, do BK lan tràn đường máu với số lượng lớn, trong thơì kỹ tiên phát hoặc thứ phát.
    - Tổn thương ở phổi đồng thời ở các cơ quan khác: gan, lách, thận, các màng...
    - Ở nước ngoài: lao kê chiếm 1,6-2% (1994) Việt Nam (VLBP): 1980-84: 2,3%, 1994: 1,4%.
    Ở BN HIV/AIDS gặp lao kê:20,5%.
    - Trước đây lao kê thường gặp ở trẻ em và người già. Ngày nay ở mọi lứa tuổi, do HIV/AIDS.
    2. Bệnh sinh:
    - Nhiễm khuẩn huyết lao: do vỡ 1 số ổ bã đậu hoá lỏng vào tĩnh mạch (thể ác tính).
    - Do lan tràn đường máu từ hạch sơ nhiễm cũ vào bạch huyết và TM chủ trên.
    - BK lan tràn đường máu và khu trú ở thành mạch, gây viêm mạch bã đậu ở nội mạc và từ đó đổ BK vào dòng máu.
    - Do phẫu thuật vào cơ quan bị lao, không đề phòng BK lan tràn đường máu.
    - Thời gian BK vào máu đến khi có tổn thương phổi 6 tuần..
    3. Lâm sàng:
    - Đột ngột, hoặc nặng dần. Có thể có HC màng não.
    - Ho kéo dài, có thể khó thở tím tái.
    - Nghe phổi có ran ẩm, ran nổ đối xứng 2 bên. gõ phổi vang (do khí phế thũng cấp).
    - Lách to (50%), gan to, hạch to, tràn dịch và viêm các màng (HC màng não, TDMP...) khám họng và thanh quản có thể thấy hạch lao. Soi đáy mắt thấy củ hắc mạc (nhất là khi có lao máng não). Cần nội soi và sinh thiết để chẩn đoán mô bệnh-TB.
    - Xquang: hình ảnh hạt kê rải đều, đối xứng , d < 2mm. Hạt kê bao giờ cũng ở đỉnh giảm dần xuống.
    Nhiều khi chỉ thấy viêm bạch mạch lao.
    - BK (-) hoặc (+) khi có bã đậu hoá.
    - Mantoux (-) hoặc (+) yếu. Điều trị ổn định thì chuyển (+). Sau 3 tuần thì 60% trở lại (+).
    - Máu: BC: 10.000-40.000 hoặc giảm 2000-4000; HC và HST giảm, Lvà E giảm, M tăng, VS tăng.
    - Sinh hoá máu: K giảm , Na giảm, photphataza kiềm tăng, Bili<20mg/lít.
    - Khi mantoux (+) có thể xét nghiệm ELISA máu hoặc dịch não tuỷ. Có thể cấy máu ở hệ thống bactec hoặc xét nghiệm : PCR.
    - Để chẩn đoán xác định dựa vào tiêu chuẩn của Grieco MH. (1974):
    + BK (+) = nuôi cấy, từ 2 nguồn bệnh phẩm khác nhau.
    + Sinh thiết chẩn đoán xác định mô bệnh (+) > 90%, ở 1 hoặc nhiều cơ quan .
    + Xquang: tổn thương nốt kê, rải đều, đối xứng.
    4. Thể bệnh:
    - Thể thương hàn.
    - Thể phổi-MP.
    - Thể màng não.
    - Thể họng-thanh quản.
    - Thể viêm nhiều hạch.
    - Thể người già.
    - Thể bệnh máu: giống bệnh bạch cầu, hoặc xuất huyết kiểu scholein-Henock..
    - J. Crofton ( 1992) chia 3 thể:
    + Thể cấp tính cổ điển (nt).
    + Thể ẩn: tiến triển từ từ, ít sốt, ít triệu chứng. Có thể sốt nhẹ kéo dài. Thường ở người già. Thiếu máu. Khám phổi không có triệu chứng. Xquang xuất hiện sau nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Hình ảnh viêm bạch mạch lưới do lao.
    + Lao kê mất phản ứng: hiếm gặp. Là thể nhiễm khuẩn huyết lao cấp tính (thế ác tính). Rất nặng. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu ở ngoài phổi. Xquang bình thường hoặc rất ít hạt kê. Bệnh cảnh giống nhiễm khuẩn huyết, hoặc Osler hoặc K hoặc Hodgkin hoặc Colagen. Mantoux (-) thường bỏ sót chẩn đoán và tử vong.
    5. Chẩn đoán:
    - Chẩn đoán xác định: tam chứng đặc trưng của Brouet G ( 1976): sốt + hạt kê ở phổi+ bất thường của dịch não tuỷ. Xquang phổi bình thường cũng không loại trừ. Cần cấy máu, Elisa, Mantoux, chọc tuỷ, dịch não tuỷ, sinh thiết phủ tạng. Nếu cần thì điều trị thử (nhưng không dùng R và S, để dễ chẩn đoán phân biệt VK khác), nếu sốt giảm sau 7-15 ngày cần nghĩ lao kê
    - Chẩn đoán phân biệt:
    + K di căn (thể kê)
    + Saccoidose và 1 số bệnh u hạt.
    + Viêm phổi thể hạt kê (tụ cầu, virut).
    + Hemosiderin phổi ở BN van 2 lá.
    6. Điều trị:
    - Thể cấp và mất phản ứng dùng Prednisolon + phác đồ điều trị lao.
    - Nếu điều trị lao có tác dụng thì lâm sàng sẽ hết 1 tháng trước XQ.
    - Không dùng Pednisolon trong điều trị thử.
    II. PHẾ VIÊM LAO (PHẾ VIÊM NHUYỄN, LAO PHỔI BÃ ĐẬU).
    1. Định nghĩa:
    Là thể lao cấp tính mà tổn thương là 1 phế nang viêm xuất tiết do BK lan tràn đường PQ và đường máu, chiếm > 1 phân thùy phổi.
    2. Bệnh sinh:
    - Do lan tràn đường PQ và đường máu, ở 1 cơ thể bị suy giảm miễn dịch.
    3. Giải phẫu bệnh:
    Đông đặc cả thùy phổi, khi cắt ra thấy bề mặt vàng (gọi là thâm nhiễm vàng), ở giữa có những đám nhuyễn hoá bã đậu, thành hang (hoại tử bã đậu là chính). Ngoại vi là tổn thương phế nang viêm xuất tiết fibrin-bạch cầu, chứa nhiều TB đơn nhân, L, tương bào, nhiều BK.
    4. Lâm sàng:
    - Thường khởi phát cấp tính, sốt 39-400, nhiễm độc lao điển hình. Có thể thiếu máu, phù thiểu dưỡng.
    - Đau ngực, khó thở, ho nhiều.
    - Khám phổi có HC đông đặc điển hình, HC hang điển hình hoặc tiếng thổi vò. Nhiều rên.
    - Xquang: bóng mờ cả thùy hoặc nhiều thùy. Trong đó có nhiều hang, thường hang lớn. Có các huyệt lao lan tràn. Đôi khi có TKMP do vỡ ổ bã đậu vào MP.
    - BC tăng, VS tăng.
    - BK (++) , đờm có sợi đàn hồi. Mantoux (-).
    - Tiến triển nhanh và nặng, từng đợt. Điều trị tốt có thể khỏi, để lại xơ hoá. Có thể thành lao xơ hang (nhưng đôi khi lại là giai đoạn cuối của lao xơ hang)
    5. Chẩn đoán:
    - Chẩn đoán xác định: BK (+), tiến triển nặng và nhanh, Xquang có nhiều hang lớn.
    - Chẩn đoán phân biệt:
    Viêm phổi thùy cấp, viêm phổi hoại tử, thuz viêm lao.
    III. PHẾ QUẢN – PHẾ VIÊM LAO (LAO TẨU MÃ):
    1. Định nghĩa:
    - Là thể lao cấp, có nhiều đốm mờ ở phổi giống hình ảnh PQ-PV.
    - Gặp ở trẻ sơ sinh và tuổi dậy thì, bị suy giảm miễn dịch
    2. Lâm sàng:
    - Khởi phát đột ngột, sốt cao, nhiễm độc lao rõ.
    Có thể khái huyết, ho nhiều, khạc đờm, khó thở nặng.
    - Xquang: 2 trường phổi có những đốm mờ, bờ rõ, đối xứng quanh rốn phổi. Các nốt qui tụ dần với nhau và nhanh chóng phá huỷ thành hang (chuyển thể lao phổi bã đậu).
    Trẻ em có thể sưng hạch rốn phổi.
    - BK (+) ở đờm và nước rửa dạ dầy.
    - Mantoux (-).
    3. Chẩn đoán và điều trị:
    - Chẩn đoán xác định dựa vào BK (+), Xquang và lâm sàng cấp tính nặng.
    - Chẩn đoán phân biệt: lao kê cấp và viêm phổi bã đậu.
    - Điều trị: kháng sinh chống lao + corticoid.
    PGS. TS. Nguyễn Xuân Triều

  2. #22
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Viêm phổi nhiễm trùng trên người nhiễm HIV/AIDS
    BS. Lê Mạnh Hùng
    BV. Bệnh Nhiệt đới

    Viêm phổi nhiễm trùng là bệnh lý phổi do các tác nhân: vi trùng, ký sinh trùng, vi nấm, siêu vi gây nên. Đây là những bệnh lý thường gặp và là nguyên nhân lớn gây tử vong trên người nhiễm HIV/AIDS.
    I. Tình hình viêm phổi nhiễm trùng trên người lớn nhiễm HIV/AIDS nhập viện tại Tp.HCM (Nghiên cứu cắt ngang, khảo sát tại 03 bệnh viện: Phạm Ngọc Thạch, Bệnh Nhiệt Đới, Bình Triệu từ 01/11 – 31/12/2004):
    1. Tỉ lệ mắc thời điểm (01 tháng 11 năm 2004):
    P = 114/169 = 67,5%
    Phân bố cụ thể như sau
    Bệnh viện
    Số BN nhiễm HIV bị VPNT
    Số BN nhiễm HIV đang nằm viện
    Tỉ lệ hiện mắc
    BK (+)
    BK (-)
    Phạm Ngọc Thạch
    62
    13
    92
    81,5%
    Bệnh Nhiệt Đới
    1
    8
    32
    28,0%
    Bình Triệu
    25
    5
    45
    66,7%
    Tính chung
    88
    26
    169
    67,5%

    2. Số ca nhiễm HIV bị VPNT nhập viện (trong thời gian nghiên cứu):
    Bệnh viện n %
    Phạm Ngọc Thạch 334 72
    Bệnh Nhiệt đới 103 22,2
    Bình Triệu 27 5,8
    Tổng cộng 464 100
    3. Tỉ lệ chết - mắc (case – fatality rate):
    Có 130 trường hợp tử vong trong một tháng điều trị trên tổng số 464 bệnh nhân → Tỉ lệ chết - mắc: 130/464 = 28%.
    4. Các đặc điểm dịch tễ - lâm sàng khác:
    - Đa số bệnh nhân nam (88.1%), tuổi trung bình 29 ± 8, hầu hết là dân tộc Kinh (95.4%); 52.8% bệnh nhân sống ở Tp.HCM, 33.8% ở các trung tâm cai nghiện trước khi nhập viện. Có đến 34.5% bệnh nhân là học viên cai nghiện và 29.1% trường hợp không nghề.
    - Đa số bệnh nhân có tiền căn chích xì ke (71.8%), 91.2% đã chuyển qua AIDS nhưng chỉ có 37.1% biết nhiễm HIV trước khi nhập viện.
    - Có 67% bệnh nhân chi trả viện phí toàn bộ, 30.9% bệnh nhân được trung tâm cai nghiện chi trả.
    - Tình trạng nhập viện: 54.7% có điểm Karnofky ≤ 30.
    - Thời gian bệnh trước nhập viện ≤ 7 ngày: 21.4%; ≥ 30 ngày: 23.8%
    - Xác định tác nhân gây bệnh: 33.6% BK (+), 66.4% không rõ.
    - Bệnh phẩm hô hấp tìm tác nhân gây bệnh chỉ là đàm khạc 96.3%, 3.7% còn lại do bệnh nhân quá yếu không lấy được.
    - Tiền căn lao: 30.7%.
    Tiền căn lao
    n
    %
    Số ca BK/đàm (+)
    Không
    321
    69.3
    122
    Đang trị
    86
    18.5
    18
    Đủ liều
    41
    8.8
    11
    Bỏ trị
    16
    3.4
    05
    - Điều trị trước nhập viện:
    Kháng sinh 16.4%, trong đó 10.6% không rõ kháng sinh đã dùng; kháng lao: 18.5%; Kháng HIV: 4.3%; Dự phòng viêm phổi với Sulfatrime: 0%.
    - Điều trị khi nằm viện:
    Kháng lao 27.4%; Kháng sinh 37.9%; Kháng lao + kháng sinh 29.1%.
    - Bệnh đi kèm thường gặp:
    Nấm lưỡi 20%; Viêm gan 19.8%; Lao ngoài phổi 14%; Viêm hạch 7.3%.
    - Kết quả điều trị sau 01 tháng nhập viện:
    Kết quả điều trị
    n
    %
    Đỡ, xuất viện
    192
    41.4
    Không đổi, xuất viện
    33
    7.1
    Bỏ viện
    59
    12.7
    Tử vong
    130
    28.0
    Còn điều trị
    50
    10.8
    II. Tác nhân gây bệnh:
    1. Chẩn đoán tác nhân gây bệnh:
    - Là công việc khó khăn, phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật lấy bệnh phẩm và khả năng phân lập tác nhân gây bệnh. Kỹ thuật lấy bệnh phẩm hô hấp qua nội soi phế quản ống mềm cho thấy tốt hơn hẳn so với phương pháp khạc đàm sâu, khạc đàm kích thích (induced sputum) nhưng khó thực hiện.
    - Có thể phân lập được nhiều tác nhân gây bệnh từ bệnh phẩm hô hấp của một người bệnh. Nội soi phế quản ống mềm trên 100 bệnh nhân nhiễm HIV có biểu hiện cơ năng hô hấp và/hoặc có tổn thương phổi trên Xquang, thực hiện tại BV Bệnh Nhiệt Đới cho kết quả: 81 trường hợp (81%) xác định được tác nhân nhiễm trùng (không khảo sát tác nhân siêu vi) từ dịch rửa phế quản - phế nang, phân bố như sau:
    . 01 tác nhân : 23 trường hợp (23%)
    . 02 tác nhân : 42 trường hợp (42%)
    . 03 tác nhân : 11 trường hợp (11%)
    . 04 tác nhân : 04 trường hợp (4%)
    . 05 tác nhân : 01 trường hợp (1%)
    2. Các tác nhân gây bệnh được phân lập:
    a. Theo các nghiên cứu đã báo cáo trên thế giới:
    - Vi trùng:
    Mycobacterium tuberculosis
    M.avium – intracellulate
    Streptococcus pneumoniae
    Haemophilus influenzae
    Legionella pneumophila
    Nocardia asteroids
    Staphylococcus aureus…
    - Ký sinh trùng: Pneumocystis jiroveci
    - Nấm: Cryptococcus neoformans
    Histoplasma capsulatum
    Candida albicans.
    Penicilium marneffei
    - Siêu vi: Cytomegalovirus, HIV…
    b. Theo nghiên cứu tại BV.Bệnh Nhiệt Đới (n-100):
    - Vi trùng:
    Acinetobacter spp
    Pseudomanas:
    Pseudomonas spp
    Pseudomonas aeruginosa
    Pseudomonas mendoceria
    Pseudomonas putida.
    Staphylococcus aureus
    Klebsiella spp
    Streptococcus pneumoniae.
    Haemophilus parainfluenzae
    Chryseomonas luteola
    Burkholderia cepacia
    Haemophilus ducreyi
    Pneumocystis jiroveci
    Trực trùng kháng acid – alcool
    Vi nấm
    Candida albicans
    Penicilium marneffei
    Cryptococcus neoformans
    III. Bệnh cảnh lâm sàng và điều trị một số bệnh viêm phổi nhiễm trùng (không do lao) trên người nhiễm HIV/AIDS:
    1. Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci
    Là bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp trên bệnh nhân AIDS ở nhiều vùng trên thế giới (Bắc Mỹ: 60 – 80%). Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài 20 – 28 ngày. Đặc điểm lâm sàng là dấu hiệu hô hấp xuất hiện từ từ, khi bệnh diễn tiến lâu bệnh nhân rơi vào suy hô hấp với khó thở khi hoạt động sau đó nặng dần khó thở ngay cả khi nằm nghỉ.
    X quang phổi thường có hình ảnh viêm phổi mô kẻ nhưng 5% có thể bình thường.
    Rửa phế nang qua nội soi phế quản, lấy bệnh phẩm làm miễn dịch huỳnh quang giúp chẩn đoán PCP.
    Điều trị
    TMP 15 mg/kg/ngày + SMX 75 mg/kg/ngày
    Hoặc
    Clindamycin 600 mg tiêm mạch 3 lần/ngày
    Hoặc
    Clindamycin 300 – 450 mg uống 4 lần/ngày + Primaquine (base) 30 mg/ngày.
    Thời gian điều trị 21 ngày. Duy trì TMP-SMX 960 mg/ngày liên tục đến cuối đời, có thể dừng khi BN được điều trị ARV có CD4>200/mm3 trên 3 tháng.
    Nếu Pa02 < 70 mmHg sử dụng thêm Prednisone 40 mg x 2 lần/ngày/x 5 ngày. Sau đó giảm còn 1 lần trong ngày trong 5 ngày kế rồi 20 mg cho những ngày còn lại tới khi hoàn tất điều trị. Nếu dùng Methylprednisolone TM thì liều dùng bằng 75% liều của prednisone.
    2. Viêm phổi do vi trùng
    Thường gặp nhất do S.pneumoniae, H.influenzae khởi phát rầm rộ nặng nề và đột ngột sau thời gian ủ bệnh từ 3 – 7 ngày. 70% BN có dấu hiệu đau ngực, hầu hết bị sốt, ho có đàm. Cần lưu ý, bệnh cảnh lâm sàng có thể thay đổi do BN đã sử dụng KS.
    Điều trị: kháng sinh phổ rộng, phối hợp kháng sinh hoặc theo kháng sinh đồ.
    3. Viêm phổi do nấm
    Cryptococcus neoformans, Penicilium marneffei, Candida albicans… khó chẩn đoán trên lâm sàng và trên Xq. Việc chẩn đoán tác nhân gây bệnh đòi hỏi phải có thiết bị (máy nội soi hô hấp) và phòng xét nghiệm hiện đại.
    Điều trị: thuốc kháng nấm (AmphotericinB, Fluconazole, Itraconazole).
    4. Viêm phổi do siêu vi
    - Khó xác định tác nhân và điều trị.
    - Thường gặp do CMV.
    - Điều trị bằng Ganciclovir.
    IV. Một số vấn đề cần lưu ý trong chẩn đoán và điều trị:
    1. Tác nhân nhiễm trùng trên phổi người nhiễm HIV/AIDS nằm viện rất đa dạng và thường có nhiều tác nhân trên cùng một bệnh nhân. Hầu hết bệnh nhân đã vào giai đoạn AIDS nên có nhiều bệnh nhiễm trùng cơ hội đi kèm, một trường hợp đã dùng kháng sinh, kháng nấm trước khi đến bệnh viện. Những điều này làm cho biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng của các bệnh phổi do các tác nhân khác nhau trên người nhiễm HIV/AIDS giảm đi tính đặc thù, gây khó khăn cho chẩn đoán và điều trị bệnh.
    2. Pneumocystis jtroveci là một trong những tác nhân gây bệnh thường gặp tại Việt Nam nên việc sử dụng Trimethoprime – Sulfamethoxazole dự phòng là cần thiết.
    3. Các vi nấm: Candida albicans, Penicilium marneffei. Cryptococcus neoformans cũng là các tác nhân cần quan tâm trong chẩn đoán và điều trị viêm phổi nhiễm trùng trên người nhiễm HIV/AIDS.
    4. Đa số BN đã từng đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế nên lưu ý đến khả năng họ bị lây nhiễm các mầm bệnh hô hấp tại những nơi này.

  3. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    minh tuyến (06-01-2014)

  4. #23
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Lâm sàng lao phổi






    1. Phân loại lao phổi

    1.1. Phân loại Lopo de carvalho
    - Có 4 loại: Lao thâm nhiễm, lao nốt, lao kê và lao xơ
    - Có 4 thể xếp theo số như sau: a = là không có hang, b = là có hang.
    Ví dụ:
    1a = lao thâm nhiễm;
    1b = lao thâm nhiễm có hang.
    1.2. Phân loại của hội lồng ngực Mỹ
    - Dựa vào tổng diện tích tổn thương lao của 2 phổi và tổng đường kính của các hang lao. Chia ra:
    + Lao nhẹ: không có hang. Diện tích tổn thương < 1 phân thuỳ phổi.
    + Lao vừa: các hang < 4 cm. Diện tích tổn thương < 1 thuỳ phổi
    + Lao nặng: các hang hoặc 1 hang > 4 cm. Diện tích tổn thương > 1 phân thuỳ.
    1.3. Phân loại của Tổ chức y tế thế giới 1998 Phân loại bệnh lao theo điều trị
    - DOT (Directly Observe Treatment): Điều trị dưới sự giám sát trực tiếp của nhân viên y tế
    - Lao phổi AFB (-) và lao ngoài phổi cũng có thể là lao thất bại điều trị, lao mạn tính, nhưng hiếm gặp hơn và phải có bằng chứng mô bệnh hoặc vi khuẩn học.
    1.4. Phân loại lâm sàng của Liên xô cũ
    - Lao cơ quan hô hấp thuộc nhóm II, gồm 12 thể: Phức hệ nguyên thuỷ, lao hạch bạch huyết trong lồng ngực, lao phổi tản mạn, lao phổi thể huỵêt, lao phổi thâm nhiễm, u lao, lao hang, lao xơ hang, lao xơ phổi, lao màng phổi, lao đường hô hấp trên khí quản hoặc phế quản, lao cơ quan hô hấp phối hợp bệnh bụi phổi nghề nghiệp.
    2. Lao tiên phát ở phổi (lao sơ nhiễm)
    2.1. Định nghĩa
    - Lao tiên phát là nhiễm trùng lao xuất hiện sau khi BK xâm nhập cơ thể lần đầu tiên.
    2.2. Lâm sàng- Lao tiên phát chủ yếu gặp ở trẻ dưới 16 tuổi, thường ở trẻ dưới 6 tuổi, chưa chủng BCG. Bệnh tiến triển lặng lẽ, ít khi có triệu chứng lâm sàng. Bệnh thường khởi phát từ từ: sốt nhẹ và vừa (37,5 - 38,5 độ C) kéo dài, sốt về chiều và đêm, sốt nóng. Trẻ biếng ăn, quấy khóc, ra mồ hôi đêm, sút cân, chậm lớn. Ho kéo dài, có khi ho thành cơn. Trẻ nhỏ nuốt đờm, trẻ lớn khạc đờm đục. Rất ít gặp khởi phát cấp tính sốt cao liên tục, nhiệt độ 39 - 40 độ C.- Triệu chứng thực thể:
    + Da xanh, mạch nhanh.
    + Ban đỏ nút: ít gặp, thường ở mặt trong cẳng chân hoặc đùi, ấn đau, đường kính 5 - 20mm, bờ rõ, màu đỏ sau đó sẫm dần và chuyển sang màu nâu. Tồn tại từ 1 - 2 tuần.
    + Mắt: có thể thấy viêm kết mạc bọng nước nằm ở vùng rìa giác mạc, thường ở một bên mắt, đường kính 1 - 3mm, có thể có nhiều nốt phỏng, màu vàng nhạt hoặc xám.
    + Khám phổi: gõ đục vùng gian sống bả do hạch rốn phổi, trung thất to; ran nổ ở thuỳ dưới, vị trí thường gặp của xăng sơ nhiễm. Đôi khi có tiếng rít cục bộ do hạch to chèn ép vào phế quản; xẹp phổi; tràn dịch màng phổi; hội chứng trung thất (chèn p tĩnh mạch chủ trên, chèn ép thần kinh hoành...).
    + Có thể gặp lao ngoài phổi: lao hạch ngoại vi, lao màng não (hội chứng màng não...), lao xương khớp, lao màng bụng (cổ trướng, gõ đục do hạch mạc treo to).
    2.3. Cận lâm sàng
    - Xquang phổi điển hình gồm: (1) một đám mờ thuần nhất, đường kính khoảng 1 - 7cm, ở người lớn thường có vị trí ở thuỳ dưới, ở trẻ em hay gặp ở thuỳ trên, rất hiếm khi có hang, (2) hạch rốn phổi hoặc trung thất cùng bên to, (3) các đường mờ nối liền giữa hai tổn thương nói trên (viêm mạch bạch huyết). Ba tổn thương này tạo nên hình ảnh "quả tạ". Hình ảnh xăng và hạch rốn phổi vôi hoá được gọi phức hợp tiên phát Ranke. Tổn thương có thể chỉ ở nhu mô phổi hoặc chỉ ở hạch rốn phổi, hạch khí phế quản. Hình ảnh khác: viêm rãnh liên thuỳ, thường là rãnh liên thuỳ nhỏ bên phải; tràn dịch màng phổi; xẹp phổi thuỳ do hạch chèn p, thường xẹp thuỳ giữa phải.
    - Phản ứng Tuberculin trong da với 5 đơn vị Tuberculin PPD đọc sau 72 giờ (phản ứng Mantoux): có giá trị chẩn đoán khi chuyển từ âm tính sang dương tính hoặc dương tính ở trẻ chưa tiêm chủng BCG. Mantoux dương tính khi đường kính cục sẩn khi vượt quá 20%.
    2.4. Chẩn đoán- Dựa vào tiền sử tiếp xúc bệnh nhân lao phổi AFB (+), sốt kéo dài, ho kéo dài, trẻ biếng ăn, sút cân, suy dinh dưỡng...
    - Phản ứng Mantoux dương tính.
    - Tìm thấy vi trùng lao trong đờm, dịch dạ dày...
    - Tổn thương xquang gợi ý.
    - Mô bệnh, tế bào dương tính (hình ảnh nang lao).
    - Các xét nghiệm khác dương tính (PCR, ELISA...).
    2.5. Tiến triển, biến chứng
    - 90% lao tiên phát tự khỏi không cần điều trị, phản ứng tuberculin dương tính (tình trạng nhiễm lao). Một số có phản ứng quá mẫn như ban đỏ nút, viêm kết mạc bọng nước... Một số chuyển sang lao hậu tiên phát, trong đó có những thể nặng như lao tản mạn, lao màng não, lao màng ngoài tim.
    3. Lao phổi hậu tiên phát
    3.1. Định nghĩa- Lao hậu tiên phát là bệnh lao xuất hiện ở cơ thể đã có đáp ứng miễn dịch dị ứng với lao, tức là đã mắc lao tiên phát.
    - Lao phổi chiếm tỷ lệ 80% các thể lao hậu tiên phát, là nguồn lây chủ yếu.
    3.2. Một số thể lao phổi hậu tiên phát
    3.2.1. Lao thâm nhiễm
    - Là thể lao hay gặp nhất ở người lớn với tỷ lệ 60 - 80%. Thường có hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc rõ. Khám phổi có thể thấy hội chứng đông đặc, hội chứng hang. Hình ảnh thâm nhiễm trên phim là đám mờ có kích thước lớn từ 1 cm trở lên. Thâm nhiễm lao thường ở phân thuỳ 1,2 thuỳ trên hoặc phân thuỳ 6 thuỳ dưới, đậm độ nhạt, bờ không rõ, hay có phá huỷ, tỷ lệ có hang trên 50%. Có thể gặp ở hai phổi. Hay có các huyệt lao lan tràn theo đường phế quản sang vùng phổi lành. Có thể gặp tổn thương xơ gây co k do cơ quan lân cận.
    - Dựa vào Xquang phân chia một số thể lao thâm nhiễm như sau: Thâm nhiễm tròn Assman, thâm nhiễm khu trú, thâm nhiễm mây mù, thuỳ viêm lao, phế quản phế viêm lao, viêm phổi bã đậu.
    3.2.2. Lao xơ hang
    - Là thể lao cuối cùng của các thể lao phổi có hang, tiến triển mạn tính, nhiều biến chứng. Thể lao này thường gặp ở những bệnh nhân không được điều trị hoặc điều trị không đúng hoặc bỏ trị, bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
    - Bệnh sử lâu ngày thường từ một năm trở lên, có các đợt tiến triển xen kẽ với những đợt ổn định. Bệnh nhân suy kiệt, có khi suy kiệt nặng "da bọc xương", hay gặp biến chứng tràn khí màng phổi, ho máu... Ho máu "sét đánh", lao phế quản, tâm phế mạn, khí phế thũng.
    - Xquang phổi: có nhiều tổn thương xơ gây co k do mạnh các cơ quan lân cận và có các hang xơ (hang có bờ rõ, m do mó). Đồng thời thấy tổn thương mới ở vùng phổi lân cận (thâm nhiễm, hang, các nốt), lan tràn lao theo đường phế quản. Thường có dầy dính màng phổi.
    - Tỷ lệ soi, nuôi cấy đờm dương tính cao, tỷ lệ kháng thuốc nhiều.
    3.2.3. Lao tản mạn
    * Định nghĩa: Lao tản mạn là một thể lao hậu tiên phát với sự lan tràn vi trùng lao theo đường máu hoặc đường bạch huyết từ một tổn thương lao có trước. Lan tràn theo đường máu tạo nên tổn thương ở nhiều cơ quan (phổi, màng não, màng phổi, màng bụng, hạch, gan, lách, tuỷ xương...).
    * Lâm sàng
    - Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc thường rõ rệt trong lao tản mạn.
    - Triệu chứng hô hấp: Khó thở là biểu hiện thường gặp, có thể khó thở nhẹ xuất hiện khi gắng sức hoặc khó thở nặng tím tái. Ít gặp ho máu.
    - Triệu chứng thực thể nghèo nàn, nghe phổi bình thường hoặc rì rào phế nang thô ráp. Có thể nghe được ran nổ đối xứng hai bên phổi vùng đỉnh hoặc gian sống bả, hội chứng tràn dịch màng phổi. Trong lao kê cấp tính, gõ vang do biến chứng khí thũng phổi.
    - Triệu chứng ở những cơ quan khác: gan, lách to, tổn thương ở họng, thanh quản, màng não và thần kinh trung ương, màng bụng, phần phụ. Soi đáy mắt có thể thấy củ hắc mạc.
    * Cận lâm sàng
    - Xét nghiệm máu: Có thể gặp phản ứng tăng bạch cầu (số lượng bạch cầu có thể tăng tới 40.000, 60.000/mm 3), có bạch cầu non trong máu ngoại vi, nhưng có thể bạch cầu giảm (2000 - 4000/mm 3). Bạch cầu Lympho và Mono tăng. Tốc độ máu lắng tăng cao, Hematocrite giảm, Kali máu giảm, Phôtphataza kiềm tăng nhẹ.
    - Xquang phổi: trong lao tản mạn cấp tính (lao kê), hai phổi có nhiều nốt mờ đường kính < 2mm, đối xứng hai bên. Có thể thấy hạch sơ nhiễm vôi hoá ở rốn phổi.
    - Trong lao tản mạn đường máu bán cấp hoặc mạn tính, các nốt mờ kích thước không đều, đường kính 3 - 6mm, đối xứng hai bên, mật độ cao hơn ở nửa trên của phổi, có thể phá huỷ tạo nên hang riềm mỏng ở ngoại vi phổi (hình ảnh "đóng ấu"). Tổn thương xoá hết sau 3 - 4 tháng điều trị lao ở phần lớn các trường hợp.
    - Phản ứng Mantoux lao tản mạn cấp tính (lao kê) thường phản ứng Mantuox (-) tính. dương tính ở khoảng 50% trường hợp. Lao tản mạn bán cấp và mạn tính phản ứng Mantuox (+) tính mạnh.
    - Nuôi cấy đờm, dịch rửa dạ dày: tỷ lệ dương tính khoảng 30%.
    - Xét nghiệm khác: PCR hoặc ELISA dương tính.
    * Chẩn đoán
    Lao tản mạn cấp tính khi bệnh cảnh lâm sàng và xquang gợi, đồng thời có bằng chứng vi trùng hoặc mô bệnh học lao ở ít nhất hai cơ quan trở lên. Ví dụ: soi, cấy đờm dương tính và sinh thiết màng bụng dương tính. Đối với lao tản mạn bán cấp, mạn tính: căn cứ vào đặc điểm gợi ý của lâm sàng, xquang phổi, kết quả xét nghiệm vi trùng, mô bệnh dương tính. PCR, ELISA dương tính là những bằng chứng rất có giá trị chẩn đoán để chẩn đoán lao tản mạn.
    3.2.4. Lao phổi ở người nhiễm HIV/AIDS
    Khoảng 50% người nhiễm HIV/AIDS tử vong vì bệnh lao. Nhiễm HIV làm cho lao nhiễm dễ chuyển thành lao bệnh, tăng tỷ lệ lao tái phát và khả năng bị lây nhiễm khi tiếp xúc với nguồn lây. Ngược lại bệnh lao làm cho nhiễm HIV/AIDS tiến triển nặng hơn và nhanh hơn. Đặc điểm lâm sàng của lao trên người nhiễm HIV/AIDS như sau:
    - Khi tỷ lệ Lympho TCD 4 (+) > 200/mm3 thì lao phổi gặp nhiều hơn lao phổi, đồng thời đặc điểm lâm sàng, xquang cũng tương tự như lao phổi ở người không nhiễm HIV.
    - Khi Lympho T CD 4 (+) < 200/mm 3 thì lao ngoài phổi gặp nhiều hơn lao phổi, đặc điểm của lao phổi có nhiều điểm khác so với bệnh lao ở người không nhiễm HIV: hay gặp các thể lao nặng (lao tản mạn), tổn thương lao thường có vị trí ở vùng thấp, tổn thương rộng thay đổi nhanh, ít có phá huỷ nhưng hay có hạch rốn phổi trung thất, tỷ lệ soi đờm dương tính thấp, Mantoux thường âm tính (đường kính cục sẩn từ 5mm trở lên là dương tính). Mô bệnh thấy ít hoại tử bã đậu, ít tế bào khổng lồ.




    Nguồn tham khảo:
    Lao







    http://yhvn.vn/wiki/lam-sang-lao-phoi
    Lần sửa cuối bởi songchungvoi_HIV, ngày 06-02-2014 lúc 16:56.

  5. #24
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Bệnh Lao kháng thuốc - Cách phòng và điều trị

    Lao kháng thuốc là tình trạng vi khuẩn lao kháng lại với các thuốc chống lao, những trường hợp này điều trị rất khó khăn và là nguồn lây lan rất nguy hiểm cho cộng đồng.

    *Bệnh lao kháng thuốc được phân loại như sau:
    - Kháng thuốc tự nhiên: Khi vi khuẩn lao trong tổn thương phát triển đạt đến một một số lượng nhất định, thì có 1 số vi khuẩn ( do đột biến trong gen) kháng lại 1 loại thuốc chống lao
    - Kháng thuốc tiên phát: Là kháng thuốc ở người bệnh chưa từng điều trị thuốc lao, nay mắc bệnh lao kháng thuốc do lây nhiễm vi khuẩn từ người bệnh bị lao kháng thuốc.
    - Kháng thuốc mắc phải: Là kháng thuốc ở người bệnh đã điều trị lao, nhưng do điều trị không đúng gây ra các chủng lao kháng thuốc.
    - Kháng đa thuốc (MDR TB – Multi drug Resistant TB): Là kháng thuốc ở người bệnh có vi khuẩn lao kháng với cả 2 loại INH và Rifampicin.
    - Siêu kháng thuốc (XDR TB - Extensively drug Resistant TB): Là những trường hợp lao kháng đa thuốc có kháng thêm với bất cứ thuốc nào trong nhóm Quinolon và kháng với ít nhất một loại thuốc chống lao hàng 2 dạng tiêm (Amikacin, Capreomycin hoặc Kanamycin).

    * Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của lao kháng thuốc:
    Lâm sàng: Khi đang điều trị lao nhưng các triệu sốt, ho, khạc đờm không thuyên giảm hoặc thuyên giảm một thời gian rồi lại xuất hiện trở lại với các triệu chứng tăng lên.
    Cận lâm sàng: Hình ảnh tổn thương trên phim X.quang phổi không thay đổi hoặc xuất hiện thêm tổn thương mới. Xét nghiệm đờm thấy AFB dương tính liên tục hoặc âm tính một thời gian rồi dương tính trở lại hoặc âm tính dương tính xen kẽ.
    Chẩn đoán xác định bệnh lao kháng thuốc:
    - Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao, kháng sinh đồ với các thuốc chống lao hàng 1 và hàng 2.
    - Phương pháp sinh học phân tử (lập trình chuỗi - sequencing): Có thể chẩn đoán nhanh bằng cách xác định các đoạn gen kháng thuốc.
    Nguyên nhân của bệnh lao kháng thuốc
    - Do phát hiện muộn: số lượng vi khuẩn lao sinh sản đến một số lượng nhất định sẽ có một số vi khuẩn đột biến kháng lại thuốc chống lao ví dụ tại ổ tổn thương lao ở phổi khi số lượng vi khuẩn lao đến 10 triệu con vi khuẩn sẽ có 1 con kháng lại thuốc rifampixin, 100.000 con vi khuẩn sẽ có một con vi khuẩn đột biến kháng lại Streptomycin và Isoniazid.
    - Điều trị lao không đúng:
    + Không phối hợp các thuốc điều trị lao( điều trị đơn lẻ)
    + Liều lượng thuốc lao không đủ
    + Dùng thuốc chống lao không tuân thủ theo phác đồ.
    + không uống thuốc đều hàng ngày, uống thuốc không đúng giờ.
    + Bệnh nhân tự bỏ điều trị, điều trị không đủ thời gian quy định( phácđồ điều trị lao hiện nay là 8 tháng).
    Hậu quả của bệnh lao kháng thuốc:
    - Bệnh nhân điều trị không khỏi sẽ dẫn đến tử vong
    - Tiếp tục lây cho cộng đồng vi khuẩn lao kháng thuốc rất nguy hiểm
    Vấn đề điều trị và phòng bệnh lao kháng thuốc:
    Điều trị bệnh lao kháng thuốc hiện nay rất khó khăn, đặc biệt bệnh nhân lao kháng đa thuốc và siêu kháng thuốc, hiện nay ở tỉnh Cao Bằng chưa có cơ sở điều trị lao kháng thuốc, những bệnh nhân kháng thuốc được gửi về Bệnh viện K74 ở tỉnh Vĩnh Phúc để được khám và quản lý điều trị. Bệnh lao kháng thuốc phải điều trị thời gian kéo dài liên tục từ 18 đến 20 tháng, dùng nhiều loại thuốc phối hợp, rất đắt tiền và nhiều tai biến khi dùng thuốc, vấn đề quản lý điều trị lao kháng thuốc đang là khó khăn thách thức đối với chương trình chống lao bởi bệnh nhân lao đa phần bệnh nhân nghèo, ở vùng sâu vùng xa. việc tiếp cận và điều trị lao đã khó khăn. Vì vậy để phòng bệnh lao kháng thuốc không còn biện pháp nào khác là: Phát hiện sớm và điều trị kịp thời cho bệnh nhân mắc lao. Quản lý điều trị chặt chẽ bệnh nhân lao đảm bảo bệnh nhân dùng thuốc theo đúng phác đồ, đúng nguyên tác điều trị đó là:
    - Phối hợp thuốc chống lao và tuân thủ điều trị theo 2 giai đoạn, giai đoạn tấn kéo dài 2 đến 3 tháng đầu, giai đoạn duy trì kéo dài 5-6 tháng tiếp theo để đảm bảo cho bệnh nhân khỏi bệnh.
    - Dùng thuốc đúng liều lượng, dùng 1 lần trong ngày, cố định giờ và uống thuốc cách 2 bữa ăn ít nhất 1,5 giờ.
    - Điều trị đủ thời gian theo phác đồ quy định là 8 tháng.


    Tác giả bài viết: Bs. Nông Duy Hiền
    http://soytecaobang.gov.vn/news/Truy...a-dieu-tri-44/

  6. #25
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH LAO PHỔI
    1. Bệnh Lao là một bệnh có từ xa xưa và đến mãi bây giờ vẫn còn là mối đe dọa sức khỏe và tính mạng con người; là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 trong các bệnh truyền nhiễm gây tử vong cho con người. Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2013 cho thấy 1/3 dân số thế giới nhiễm Lao; 12 triệu người hiện đang mắc Lao; 8,6 triệu người mắc Lao mới; 1,3 triệu người tử vong do Lao. Việt Nam đứng hàng thứ 12 trong 22 nước có gánh nặng bệnh Lao cao nhất thế giới. Hàng năm Việt Nam có khoảng 130.000 người mắc Lao mới, 170.000 người mắc Lao lưu hành, khoảng 3.500 người mắc Lao đa kháng thuốc và đặc biệt có khoảng 18.000 người tử vong do bệnh Lao. Ninh Thuận năm 2013 phát hiện 793 ca mới; tử vong 30 người.2. Người bệnh Lao là nguồn lây cho người lành (99%) và chỉ 1% bị lây từ bò mắc bệnh Lao. Nguyên nhân gây bệnh là trực khuẩn Mycobacteria Tuberculosis do ông Robert Koch người Đức tìm ra (năm 1992) nên còn gọi là Bacille de Koch (B.K). Vi khuẩn Lao có lớp vỏ sáp đặc biệt, kháng được cồn và a-xit, tồn tại rất bền vững ở môi trường bên ngoài và trong cơ thể người bệnh, có khả năng kháng thuốc cao nên việc điều trị bệnh Lao phải được thực hiện đúng quy định. Bệnh Lao chữa lành bệnh được nếu phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ, đúng thời gian và có sự giám sát của CB y tế chuyên ngành Lao. Chữa lành bệnh Lao ngoài việc đem lại sức khỏe, cuộc sống bình thường cho người bệnh mà còn cắt đứt nguồn lây bệnh cho gia đình và cộng đồng.3. Đường lây: Một người mắc bệnh Lao phổi nếu không chữa trị, suốt đời có thể lây bệnh cho 20 – 50 người khác. Việc ho, khạc của người bệnh Lao có AFB (+) làm tống xuất BK ra ngoài và tồn tại ở đó. Các chất tiết khi khô lại, biến thành những hạt bụi nhỏ bay lơ lửng trong không gian có chứa BK, người lành hít vào phổi thành người bị nhiễm Lao. Hoặc có thể do tiếp xúc vi khuẩn Lao dịch tiết từ các sang thương) mà da hoặc niêm mạc người lành có các vết thương, BK xâm nhập vào theo đường máu đến các cơ quan khác gây bệnh, nên ngoài bệnh Lao phổi còn có các bệnh Lao khác như: Lao hạch, lao xương, Lao màng bụng, Lao màng phổi, Lao màng não, Lao thận, Lao khớp.v.v… Uống sữa bò không tiệt trùng có thể mắc bệnh Lao ruột.Tuy nhiên, cần phân biệt người nhiễm Lao có tỷ lệ rất cao trong cộng đồng và người mắc bệnh Lao là khác nhau với số ca mắc thấp hơn nhiều. Vi khuẩn Lao (BK) sau khi xâm nhập vào cơ thể sẽ bị đại thực bào(*) bắt lấy, nuốt và tiêu hóa đi. Nhưng nếu cơ thể suy yếu, hoặc do nhiễm quá nhiều BK (liên tục tiếp xúc nguồn lây) đại thực bào không tiêu hóa hết thì các BK sẽ biến thành “thể ngủ” không hoạt động mà nằm trong cơ thể chờ thời. Khi điều kiện không lợi cho sức khỏe xảy ra như lao lực, suy dinh dưỡng, thiếu ăn, mắc bệnh nặng, uống quá nhiều bia rượu, thức đêm liên tục hoặc do mắc bệnh mạn tính… BK sẽ thừa dịp bùng dậy, phát triển và gây bệnh Lao cho người nhiễm.Như vậy việc tránh bị lây nhiễm BK là điều cần thiết nhưng rất khó vì chúng ta không thể biết hết ai là người đang mắc bệnh Lao và số người bệnh Lao được phát hiện ở các nước nghèo còn rất thấp vì kinh tế khó khăn, vì mặc cảm muốn dấu bệnh, sợ cộng đồng xa lánh, mất việc … nên nguồn lây trong cộng đồng là rất dồi dào. Nhưng nếu ta vẫn giữ được sức khỏe tốt thì dù có nhiễm BK thì cũng không phải đã mắc bệnh Lao.4. Nhận thức rõ sự nguy hiểm và gánh nặng bệnh Lao đem lại, ngày 04/3/2014, Bộ Y tế đã trình Chính phủ phê duyệt “Chiến lược Quốc gia phòng chống bệnh Lao đến năm 2020 và tầm nhìn 2030”, trong đó xác định công tác phòng chống Lao là công việc lâu dài và trách nhiệm của toàn xã hội; Nhà nước chủ đạo về nguồn lực đồng thời huy động các nguồn lực cho việc phòng chống Lao và điều trị bệnh nhân Lao chủ yếu tại cộng đồng chứ không phải tập trung trong bệnh viện.Chủ đề cho Ngày Thế giới Phòng chống Lao năm nay là: “Mọi người đều có quyền và nghĩa vụ tham gia cuộc chiến chống lại bệnh Lao”, để bảo vệ mình và người thân, mọi người cần thực hiện:- Đối với người có một trong các triệu chứng như: ho khạc kéo dài > 2 tuần mà không rõ nguyên nhân; Gầy sụt cân không rõ nguyên nhân; mất ngủ và thường ra mồ hôi trộm; Thường sốt hâm hấp về chiều; Ho khạc ra máu… cần đến ngay trung tâm y tế huyện, thành phố để được khám bệnh sớm;- Người mắc bệnh Lao cần điều trị trong Chương trình Phòng chống Lao Quốc gia để được điều trị đúng phác đồ, đúng thời gian và có sự giám sát, giúp đỡ của CBYT chuyên khoa Lao để có hiệu quả cao; nhiều năm qua Chương trình đã làm rất tốt;- Nếu phát hiện mắc bệnh Lao, bệnh nhân sẽ được điều trị theo phác đồ đa hóa trị liệu ngắn ngày thường thì trong vòng 30 – 60 ngày là trong đàm sạch BK nên không còn lây nhiễm cho người khác, vì vậy không cần cách ly bệnh nhân quá lâu như quan niệm xưa cũ mà trái lại gia đình cần động viên người bệnh uống thuốc đúng liều lượng, đúng giờ, đúng thời gian và tăng bồi dưỡng để có sức khỏe chống lại bệnh Lao tốt hơn.5.Phòng ngừa bệnh Lao:- Trẻ sơ sinh phải được tiêm vắc-xin phòng Lao trong vòng 24 giờ;- Ăn uống đủ chất tức là ăn đủ gạo, bột; đạm (thịt, cá, trứng, cua, ốc, lươn ếch, chuột đồng), đủ rau xanh và trái cây và dầu mỡ. Nếu biết tính toán vẫn có được bữa ăn đủ chất mà không cần nhiều tiền.- Không lạm dụng rượu bia, thuốc kích thích, thức đêm liên tục… đây là yếu tố nguy cơ rất cao để bệnh lao bùng phát;- Lao động cần có thời gian nghỉ ngơi để lấy lại sức;- Tập thể dục, thể thao, khí công… đều đặn./.
    BS Nguyễn Năm
    http://www.ninhthuan.gov.vn/chinhquy...-LAO-PHOI.aspx

  7. #26
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Dùng thuốc trị lao lúc nào hiệu quả nhất?

    BS dặn cháu uống thuốc lúc 9h sáng nên cháu dạy ăn sáng mới uống thuốc. Nhưng hôm nay cháu lại đọc được bài báo nói phải uống trước khi ăn.

    Thưa bác sĩ,

    Một tuần trước cháu bị ho ra máu tươi, đi khám và BS chẩn đoán cháu bị lao phổi. Cháu bắt đầu uống thuốc, có cả thuốc cầm máu. Vậy mà cháu vẫn bị ho ra máu, có cả máu đặc như đàm, màu sậm. Và nước tiểu thì rất đỏ, nhưng chỉ đỏ vào buổi sáng.

    BS dặn cháu uống thuốc lúc 9h sáng nên cháu dạy ăn sáng mới uống thuốc. Nhưng hôm nay cháu lại đọc được bài báo nói phải uống trước khi ăn.

    Vậy cháu phải thay đổi cách uống thuốc ạ? Cháu có nên đi khám không hay chờ sau 2 tháng nữa khám lại?

    (Hana - hana...@gmail.com)

    Ảnh minh họa



    Chào em,

    Theo phác đồ chuẩn của Bộ Y tế, hiện nay nếu mới mắc lao lần đầu, bệnh nhân sẽ được điều trị theo Phác đồ IA: 2RHEZ/4RHE, thời gian điều trị chỉ kéo dài 6 tháng (khác với trước đây là 8 tháng), gồm hai giai đoạn:
    - Giai đoạn tấn công là 2 tháng với 4 thứ thuốc chống lao thiết yếu là: Isoniazid (H), Rifampicin (R), Pyrazinamid (Z), và Ethambutol (E).
    - Giai đoạn củng cố (hay còn gọi là duy trì) là 4 tháng gồm 3 thứ thuốc: Isoniazid (H), Rifampicin (R) và Ethambutol (E).
    Theo thư em cho biết, mình bị
    lao phổi nhưng AloBacsi không rõ em được chẩn đoán lao phổi loại nào? AFB(+) hay AFB (-)? Với mỗi loại lao phổi khác nhau, việc theo dõi điều trị có khác đôi chút.
    Thông thường, nếu là lao phổi AFB(+), thì em sẽ được kiểm tra xét nghiệm đàm tìm BK 3 lần (gọi là kiểm soát đàm), sau điều trị 2 tháng (gọi là kiểm soát 1), 4 tháng (kiểm soát 2), và 6 tháng (kiểm soát 3). Còn nếu là Lao phổi AFB (-), thì chỉ kiểm soát đàm 2 lần sau điều trị 2 tháng và 4 tháng.
    Với trường hợp bệnh của em, sau 2 tháng điều trị tấn công, em cần thử đàm kiểm soát 1 nhằm theo dõi sự đáp ứng cũng như tiên lượng kết quả điều trị.
    Trong trường hợp sau 2 tháng điều trị, mà xét đàm vẫn còn thấy vi trùng lao, thì khi chuyển sang giai đoạn duy trì 1 tháng (tức là sau 3 tháng điều trị) em sẽ được kiểm soát đàm lại, nếu vẫn còn dương sẽ được làm các xét nghiệm tìm bằng chứng xem mình có bị lao kháng đa thuốc không.
    Để các thuốc điều trị lao hấp thu vào cơ thể tốt, em cần uống lúc bụng đói, tốt nhất là buổi sáng sớm. Sau khi uống thuốc đi tiểu màu đỏ (chỉ buổi sáng) là hoàn toàn bình thường (do chuyển hóa của thuốc Rifampicin), em đừng quá lo lắng nhé.
    Chúc em mau lành bệnh!
    BS-CK1 Nguyễn Minh Thu - AloBacsi.vn

  8. #27
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Lao phổi sau điều trị 4 tuần có còn khả năng lây bệnh?

    Em mới phát hiện bị lao và được về nhà sau 3 tuần điều trị tại bệnh viện. Em đã về nhà được 1 tuần, liệu em còn lây bệnh cho người trong gia đình mình không, AloBacsi?

    Chào bác sĩ,

    Em mới phát hiện mình bị bệnh lao và được về nhà sau 3 tuần điều trị tại bệnh viện. Do em bị dị ứng với Rifampicin nên được điều trị theo các loại thuốc uống như Isonazid, Ethambuthol, Pyrazinamid, và thuốc tiêm bắp Streptomycin.

    Hiện em đã về nhà được 1 tuần. BS cho em hỏi, liệu em còn lây lan cho người trong gia đình mình không? Em rất lo BS ạ.

    (Linh Hoang - linhht…@gmail.com)


    Ảnh minh họa


    Chào em,

    Theo Chương trình Chống Lao Quốc gia, đối với bệnh
    lao phổi, khi xét nghiệm soi đàm trực tiếp thấy có vi khuẩn lao thì bệnh nhân (BN) được xếp loại chẩn đoán là lao phổi AFB(+) và ngược lại là lao phổi AFB(-) .Theo thư em, AloBacsi không rõ em được chẩn đoán lao phổi loại nào, AFB(+) hay AFB (-)? Với mỗi loại lao phổi khác nhau, việc theo dõi điều trị có khác đôi chút.
    Ở Việt nam, theo Chương trình Chống Lao Quốc gia, người mắc lao lần đầu sẽ được điều trị theo phác đồ như sau: giai đoạn tấn công kéo dài 2 tháng gồm 4 loại thuốc: Ethambutol (hoặc Streptomycine), Rifampicine, Isoniazide, Pyrazinamide và giai đoạn sau gọi là củng cố (hay duy trì) kéo dài 6 tháng gồm 2 loại thuốc Isoniazide và Ethambutol.
    Trường hợp mới bị lao lần đầu, ắt hẳn là em được điều trị theo phác đồ trên, nhưng do em bị dị ứng với Rifampicine nên phác đồ điều trị đã được bác sĩ chuyên khoa thay đổi đôi chút, cụ thể là giai đoạn tấn công dùng Ethambutol, Streptomycine, Isoniazide, Pyrazinamide.
    Thông thường, nếu là lao phổi AFB(+), thì em sẽ được kiểm tra xét nghiệm đàm tìm vi khuẩn lao 3 lần (gọi là kiểm soát đàm), sau điều trị 2 tháng (gọi là kiểm soát 1), sau 5 tháng (kiểm soát 2), và 8 tháng (kiểm soát 3). Còn nếu là lao phổi AFB (-), thì chỉ kiểm soát đàm 2 lần: sau điều trị 2 tháng và 5 tháng.


    Trong trường hợp sau 2 tháng điều trị, thực hiện kiểm soát 1: xét nghiệm soi đàm kết quả âm tính - khả năng lây bệnh của bệnh nhân với người tiếp xúc sẽ thấp hơn.


    Trường hợp của em, việc điều trị còn nằm trong giai đoạn tấn công, điều đó có nghĩa là em vẫn còn là nguồn lây - có nhiều khả năng lây bệnh cho người khác.


    Em cần hạn chế tiếp xúc với mọi người, giữ vệ sinh ho khạc (che tay khi ho, khạc nhổ đúng chỗ) và khi nói chuyện, tiếp xúc với mọi người cần đeo khẩu trang, em nhé.


    Chúc em mau lành bệnh!

    BS-CK1 Nguyễn Minh Thu

  9. #28
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Thứ sáu, 09/05/2014 13:18
    Điều trị lao hơn 1 tháng vẫn còn ho nhiều, tức ngực?


    Chào bác sĩ,

    Em được chuẩn đoán bị lao phổi mới, điều trị bằng thuốc AKurit-4 (ngày uống 4v) và uống được 33 ngày rồi nhưng các biểu hiện lâm sàng vẫn không thấy đỡ hơn, vẫn còn thấy trong người nóng bừng vào mỗi chiều, thi thoảng hay ho, vã mồ hôi rất nhiều, đau tức ngực trái thường xuyên, mới đây thôi còn khạc ra một ít máu.

    Bác sĩ cho em hỏi là uống thuốc bao lâu thì mới hết các triệu chứng lâm sàng của lao phổi, hay là do lao kháng thuốc? Em cảm ơn bác sĩ!

    (Tin – TPHCM)


    BS-CK1 Nguyễn Minh Thu:


    Ảnh minh họa
    Chào em,

    Trong quá trình điều trị
    lao, các triệu chứng mà em nêu trong thư như: ho (hay khạc một ít máu), vã mồ hôi, đau tức ngực trái, nóng bừng vào mỗi chiều là những triệu chứng mà em có lúc trước khi điều trị, có thể vẫn còn xuất hiện và kéo dài một thời gian. Thời gian kéo dài bao lâu thì tùy theo tổn thương phổi ban đầu của người bệnh nhiều hay ít, sự đáp ứng của cơ địa và thể trạng của bệnh nhân khi dùng thuốc kháng lao.Nếu sau 5 tháng điều trị lao phổi mà người bệnh thấy vẫn còn ho kéo dài, đau ngực,… và xét nghiệm soi đàm trực tiếp thấy có vi trùng thì cần nghĩ đến lao kháng đa thuốc. Trường hợp của em điều trị có 33 ngày – vẫn còn ở giai đoạn điều trị tấn công (kéo dài 2 tháng) chưa thể nghĩ đến lao kháng thuốc. Mong rằng những lời giải thích trên giúp em yên tâm hơn.
    Chúc em có kết quả điều trị tốt đẹp!

  10. #29
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Hạch lao nằm trong dạ dày có bất thường không, AloBacsi?

    Thứ bảy, 26/04/2014 11:35
    Thưa bác sĩ,

    Anh trai con bị hạch dạ dày sau 1 thời gian khám và làm sinh thiết tại BS thì BS kết luận hạch đó là hạch lao. Con muốn hỏi:

    1. Con nghe nói hạch lao chỉ có ở cổ hoặc bẹn nhưng anh con lại ở trong dạ dày con không biết như thế nào?

    2. Sau khi có kết quả bệnh viện cho anh con về địa phương điều trị nhưng anh con lại thường xuyên bị đau bụng và đau rất dữ dội có đi đến bệnh viện bác sĩ nói là do hạch lớn nên chèn bao tử, rối loạn tiêu hóa gây đau bụng. Anh con đã điều trị được hơn 1 tháng bây giờ thì rất thường xuyên đau bụng. Con muốn hỏi ý kiến BS ạ?

    Con xin cám ơn BS rất nhiều!

    (Nguyen Tuyet - ngtuyet…@gmail.com)


    BS-CK1 Nguyễn Minh Thu:


    Ảnh minh họa


    Chào bạn,

    Các thắc mắc bạn nêu ra trong thư, AloBacsi xin trả lời như sau:1. Khi hít phải vi khuẩn lao do người mắc
    bệnh lao phổi phóng thích ra khi ho, khạc, hắt hơi (không che miệng đúng cách),… trực khuẩn lao sẽ xâm nhập vào cơ thể và đến phổi. Tại đậy, trực khuẩn lao sẽ sinh sôi nảy nở rồi sau đó theo máu và bạch huyết phát tán đi khắp nơi trong cơ thể.
    Thông thường thì đa số trực khuẩn sẽ bị hệ thống miễn dịch của cơ thể tiêu diệt, tuy nhiên có một số trực khuẩn vẫn còn sống và nằm lại trong tế bào ở một vài vị trí nào đó hạch bạch huyết (hay hạch lympho) là một trong vô số các cấu trúc trơn, hình bầu dục dẹp, rải rác dọc theo các mạch bạch huyết, là một phần của hệ bạch huyết. Các hạch bạch huyết thì có mặt ở khắp nơi trong cơ thể, nhưng tập trung nhiều nhất ở một số vùng như cổ, nách, bẹn. Do vậy, khi bị vi khuẩn lao xâm nhập và lan tràn theo đường máu, bạch huyết, thì bất kỳ bộ phận nào trong cơ thể cũng có thể bị lao, và hay gặp là vị trí nêu trên. Trường hợp anh trai bạn, khi
    sinh thiết hạch cạnh dạ dày cho kết quả là lao hạch là điều hoàn toàn bình thường, bạn ạ.
    2. Anh của bạn đã điều trị được hơn 1 tháng, mà lại vẫn thường xuyên bị đau bụng và đau rất dữ dội thì bạn cần xem xét thêm tình trạng đáp ứng thuốc điều trị của cơ thể và đồng thời siêu âm bụng tổng quát kiểm tra để xem xét thêm các nguyên nhân khác gây đau bụng, bạn nhé!

  11. #30
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Em bị lao màng bụng, có phải em đang bị tình trạng lao kháng thuốc hay không?

    Kính chào AloBacsi,

    Em năm nay 35 tuổi, nặng 55kg đang điều trị lao màng bụng được đến tháng thứ 6 rồi, nhưng trong tháng thứ 5 thì nổi thêm 3 - 4 hạch giữa cổ bên trái xương ức đòn chũm lúc đầu sưng to từ 7mm - 13mm và cũng có uống Alphachoey nhưng cũng không giảm và có xu hướng to lên và cứng lại.

    Khi em làm sinh thiết hạch thì kết quả là viêm hạch lao nhưng bác sĩ tại nơi điều trị không có điều chỉnh phác đồ điều trị hay có một động thái nào cho em biết diễn tiến tình trạng bệnh của mình như thế nào.

    Trong 2 tháng đầu điều trị tấn công có kết quả rất tốt theo phác đồ tấn của bệnh viện, từ sau 2 tháng đến nay thuốc uống duy trì là Ethambutol (3V), Isoniazid (1V), Rifampicin 300 (2V).

    Xin bác sĩ cho biết có phải em đang bị tình trạng lao kháng thuốc hay không? Triệu chứng của hiện tượng lao kháng thuốc là như thế nào? Trong trường hợp này thuốc như vậy có đủ liều hay không? Và cần phải thay đổi thuốc hay thay đổi phác đồ điều trị như thế nào?

    Mong sớm nhận được trả lời của bác sĩ. Chân thành cám ơn và trân trọng kính chào! (Thành Quyền – quyen…@gmail.com)


    BS-CK1 Nguyễn Minh Thu:

    Thành Quyền thân mến,

    Em bị lao màng bụng, thuộc một trong những trường hợp lao nặng, được chỉ định điều trị theo phác đồ gồm 5 thuốc chống lao thiết yếu là: Isoniazid (H), Rifampicin (R), Pyrazinamid (Z), Streptomycin (S) và Ethambutol (E).

    Thông thường, phác đồ này viết tắt là 2SHRZE/1HRZE/5H­­3 R3 E3 gồm 2 giai đoạn:

    - Giai đoạn tấn công kéo dài 3 tháng, 2 tháng đầu tiên với cả 5 loại thuốc chống lao thiết yếu (SHRZE) dùng hàng ngày, 1 tháng tiếp theo với 4 loại thuốc (HRZE) dùng hàng ngày.

    - Giai đoạn duy trì kéo dài 5 tháng với 3 loại thuốc H, R và E dùng 3 lần một tuần.

    Nhưng đối với một số trường hợp đặc biệt, thời gian dùng thuốc có thể kéo dài, tùy thuộc vào tiến triển và mức độ bệnh, các BS chuyên khoa sẽ hội chẩn và quyết định thời gian kéo dài bao lâu.

    Trường hợp của em đang điều trị lao màng bụng được đến tháng thứ 6 rồi, nhưng trong tháng thứ 5 thì nổi thêm 3 - 4 hạch giữa cổ bên trái xương ức đòn chũm thì chưa thể kết luận có tình trạng lao kháng thuốc hay không. Muốn biết được điều này, em phải làm xét nghiệm nuôi cấy và làm kháng sinh đồ, mà các phương pháp trên tốn nhiều thời gian (khoảng 6 tuần) .

    Do vậy, trong thời gian chờ đợi kết quả nuôi cấy và kết quả kháng sinh đồ hoặc chưa có điều kiện nuôi cấy và làm kháng sinh đồ thì phải dựa vào phác đồ điều trị của Bộ Y tế ban hành để điều trị.

    Em cứ yên tâm, bởi các BS Chuyên khoa Lao sẽ theo dõi tình trạng bệnh của em và sẽ biết thời điểm nào để chỉ định làm các xét nghiệm cần thiết nhằm chẩn đoán tình trạng lao kháng thuốc.

    Mong rằng lời giải thích trên sẽ giúp em bớt lo lắng.

    Thân ái!

  12. #31
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Ba mẹ đều bị lao, liệu con có mắc bệnh?

    Thứ hai, 26/05/2014 08:25
    BS ơi, chồng em bệnh lao phổi mới, xét nghiệm AFB(-) và đang điều trị, em thì bệnh lao màng phổi mới, em đã uống thuốc đủ phát đồ 6 tháng. Em muốn hỏi 2 loại bệnh trên bệnh dễ lây lan cho mọi người, con em có bị lây không? Xin tư vấn giúp em!

    (Dinh Huy - suboy…@gmail.com)


    BS-CK1 Nguyễn Minh Thu:



    Ảnh minh họa


    Chào Huy,

    Trước hết, AloBacsi thông cảm với tâm trạng của em - không an tâm về vấn đề sức khỏe của con mình, khi cháu có cả cha lẫn mẹ đều bị bệnh lao. Tuy nhiên, em cũng đừng quá lo lắng vì không nhất thiết cha mẹ bị lao thì con sẽ mắc bệnh lao đâu.Em nên biết, bệnh
    Lao Màng phổi thì không lây, nhưng lao phổi thì lại dễ lây lan cho người xung quanh qua đường hô hấp. Cụ thể là khi người bệnh ho, hắt hơi, nhảy mũi, nói chuyện hay khạc nhổ, sẽ thải vào không khí các hạt nhỏ li ti từ chất tiết của đường hô hấp - và vi khuẩn lao nằm trong dịch tiết, đàm nhớt này sẽ là nguồn lây bệnh lao. Lao phổi mà xét nghiệm AFB(+) thì đó là nguồn lây cao, sẽ dễ lây lan bệnh cho người khác hơn là Lao phổi AFB(-)
    Bệnh lao phổi chỉ xuất hiện khi có đủ hai điều kiện: sức đề kháng của cơ thể giảm sút và bệnh nhân tiếp xúc với nguồn lây nhất là những người bệnh lao mang nhiều vi trùng (lao phổi AFB(+)).
    Những trường hợp sức đề kháng của cơ thể suy giảm như mắc các bệnh làm suy giảm hệ miễn dịch (nhiễm HIV/AIDS, tiểu đường…), dùng thuốc Corticoides kéo dài , suy dinh dưỡng, suy nhược cơ thể, người già, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai,…thì dễ bị lây và mắc bệnh lao hơn người khác.
    Trường hợp của em, ông xã bị lao phổi xét nghiệm AFB(-) nên ít lây cho người thân hơn (chứ không phải là không lây) so với lao phổi AFB(+), nhưng con em vẫn có thể bị lây từ cha khi tiếp xúc vì trẻ em là một trong những đối tượng nguy cơ dễ bị mắc lao.
    AloBacsi không rõ tuổi của con em nên không thể tư vấn rõ hơn. Nếu cháu dưới 5 tuổi, em cần phải giúp cháu giữ gìn sức khỏe kỹ lưỡng: cháu phải có chế độ dinh dưỡng và nghỉ ngơi hợp lý, hạn chế việc tiếp xúc gần gũi (kéo dài, thường xuyên, thân mật) giữa cháu và cha của cháu, đặc biệt cha cháu cần đeo khẩu trang khi tiếp xúc với mọi người.
    Chúc sức khỏe gia đình em!

    http://alobacsi.vn/cam-cum-ho-hap/ba...q39561c171.htm

  13. #32
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Phòng mắc lao ở người nhiễm HIV

    Thứ sáu, 30/05/2014 06:31
    Có thể nói lao và HIV là hai bạn đồng hành. Hai bệnh này tương tác thành vòng xoắn bệnh lý dẫn đến hậu quả là cuộc đời của những bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV càng ngắn lại.

    Vì vậy, việc điều trị dự phòng lao cho người nhiễm HIV sẽ giúp người bệnh kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng sống.
    Đối với người nhiễm HIV, hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy giảm là điều kiện cho các bệnh nhiễm trùng cơ hội xâm nhập, trong đó có bệnh lao. HIV tấn công phá huỷ lympho TCD4 (tế bào miễn dịch) dẫn đến cơ thể suy giảm sức chống lại sự phát triển của vi khuẩn lao làm cho bệnh lao phát triển rất nhanh, rút ngắn thời gian chuyển từ nhiễm lao sang bệnh.
    Có thể nói, HIV/AIDS đã tác động rất lớn đến tỷ lệ mắc bệnh lao và tỷ lệ chết do lao. Trong khi đó, cả hai bệnh lao và HIV đều có thể lây lan trong cộng đồng nếu như chúng ta thiếu hiểu biết, không biết cách tự bảo vệ mình.

    Khám tư vấn cho người đồng nhiễm lao - HIV.

    Phát hiện sớm mắc lao
    Theo hướng dẫn phát hiện tích cực bệnh lao và điều trị dự phòng mắc lao bằng isoniazid (INH) ở người nhiễm HIV, đối với người lớn và trẻ vị thành niên phát hiện nghi ngờ mắc lao dựa vào 4 triệu chứng và dấu hiệu sau: hiện tại có ho, sốt, sút cân, ra mồ hôi ban đêm.
    Đối với trẻ em dựa vào 4 dấu hiệu: trọng lượng cơ hể hay cân nặng (không lên cân hoặc thiếu cân so với độ tuổi hoặc sụt cân từ trên 5% so với lần kiểm tra gần đây nhất hoặc không tăng cân), sốt, hiện tại có ho và có tiếp xúc với người bệnh lao.
    Nếu người nhiễm HIV có bất kỳ một trong các triệu chứng hoặc dấu hiệu trên (đối với người lớn và trẻ em) là những trường hợp nghi ngờ mắc bệnh lao.

    Những trường hợp nghi ngờ này cần được chẩn đoán phân biệt với các nhiễm trùng cơ hội khác, hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa lao hoặc giới thiệu người bệnh đến cơ sở điều trị lao để được chẩn đoán và điều trị.

    Trường hợp người nhiễm HIV mắc lao, cần đăng ký điều trị bệnh lao theo hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh lao và điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng HIV (ARV) của Bộ Y tế ngay sau khi người bệnh dung nạp thuốc điều trị lao.

    Thuốc dự phòng mắc lao cho người nhiễm HIV.

    Nếu người nhiễm HIV không mắc lao thực hiện điều trị dự phòng mắc lao bằng thuốc INH, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội khác (nếu có).
    Dự phòng bằng isoniazid (INH)
    Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, chỉ định điều trị dự phòng bệnh lao bằng INH cho những trường hợp sau:
    Người lớn và trẻ vị thành niên nhiễm HIV và loại trừ mắc lao tiến triển; không phụ thuộc vào tình trạng miễn dịch kể cả phụ nữ mang thai, người bệnh đang điều trị ARV và người bệnh đã từng được điều trị lao trước đây.
    Đối với trẻ em, trẻ trên 12 tháng tuổi nhiễm HIV: không có bằng chứng mắc lao tiến triển dựa vào sàng lọc lâm sàng và không tiếp xúc với người bệnh lao. Trẻ dưới 12 tháng tuổi nhiễm HIV: chỉ những trẻ có tiếp xúc với người bệnh lao và được loại trừ đang mắc lao tiến triển.
    Không được dùng INH để dự phòng lao cho người bệnh có tiền sử dị ứng với INH (người bệnh đã từng bị sốt, phát ban hoặc viêm gan do điều trị bằng INH trước đây).
    Đối với những trường hợp viêm gan tiến triển, xơ gan, nghiện rượu nặng (người bệnh có các triệu chứng lâm sàng của viêm gan như mệt mỏi, biếng ăn, nước tiểu sẫm màu, đau bụng, nôn, buồn nôn, vàng da... và/ hoặc có tăng men gan như ALT lớn hơn 5 lần chỉ số bình thường thì trì hoãn việc điều trị dự phòng lao bằng INH cho đến khi men gan trở về bình thường hoặc nhỏ hơn 5 lần giới hạn bình thường.
    Trong trường hợp người bệnh có rối loạn thần kinh ngoại biên (cảm giác kim châm, tê bì, yếu chi hoặc có cảm giác đau bỏng rát ở các chi), trì hoãn việc điều trị dự phòng INH cho đến khi người bệnh được điều trị ổn định.
    Cách dùng thuốc: uống 1 lần/ngày vào thời gian nhất định trong ngày và xa bữa ăn, tốt nhất là uống lúc đói. Thời gian điều trị, đối với người lớn là 9 tháng, trẻ em là 6 tháng.
    Các tác dụng không mong muốn thường gặp khi dùng thuốc này như viêm dây thần kinh ngoại biên (khắc phục bổ sung vitamin B6 lên 100mg/ngày.

    Ngừng INH nếu các triệu chứng của viêm dây thần kinh ngoại biên không thuyên giảm hoặc nặng hơn), có thể bị rối loạn chức năng gan, biểu hiện vàng da, tăng men gan (cần phân biệt với tăng men gan do các nguyên nhân khác), người bệnh có thể bị nổi mẩn, buồn nôn, nôn, vàng da thì dừng uống thuốc tạm thời đến khi các triệu chứng thuyên giảm hoặc ổn định thì điều trị tiếp tục.
    Người bệnh và người chăm sóc cần được tư vấn về những tác dụng không mong muốn này và theo dõi các tác dụng phụ trong tất cả các lần tái khám.
    Đối với những trường hợp được điều trị đồng thời INH với thuốc kháng HIV nevirapine (NVP) cần theo dõi chặt chẽ về sự tăng nguy cơ viêm dây thần kinh ngoại vi và ngộ độc gan. Cần ngừng thuốc khi xuất hiện các triệu chứng ở mức độ nặng.


    AloBacsi.vn
    Theo BS Nguyễn Bích Ngọc - Sức khỏe và Đời sống

  14. #33
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Điều trị HIV cho người bệnh lao

    Giữa bệnh lao và nhiễm HIV có một mối liên quan đặc biệt. Hai bệnh này tương tác qua lại vòng xoắn bệnh lý dẫn đến hậu quả là cuộc đời của những bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV càng ngắn lại. Do vậy việc điều trị HIV cho người bệnh lao vô cùng khó khăn
    Mối liên quan giữa HIV và bệnh lao- Virus HIV tấn công phá huỷ lympho TCD4 dẫn đến cơ thể suy giảm sức chống lại sự phát triển của vi khuẩn lao làm cho bệnh lao tăng tốc phát triển, rút ngắn thời gian chuyển từ nhiễm lao sang bệnh. -Người nhiễm HIV có nguy cơ bị bệnh lao gấp từ 10 đến 30 lần người không nhiễm và từ nhiễm lao chuyển thành bệnh lao là 10% cho 1 năm. Khả năng mắc bệnh lao của người nhiễm HIV là 50%.- Bệnh lao thường tiến triển nhanh và lan tràn.
    Ảnh minh họa: Nguồn internet

    Mối liên quan giữa bệnh lao và HIV- Quá trình huỷ hoại tế bào tổ chức của bệnh lao giải phóng các chất hoá học trung gian tế bào.- Các chất như yếu tố hoại tử u alpha (TNFα - Tumor Necrosic Factor alpha) và Interleukin 6 (IL6) kích thích HIV nhân lên nhanh hơn, làm cho tế bào lympho TCD4 phá huỷ nhiều hơn dẫn đến quá trình suy giảm miễn dịch năng nề hơn.Triệu chứng của người bệnh lao nhiễm HIVNgười bệnh lao nhiễm HIv có các triệu chứng điển hình của bệnh lao như:- Ho kéo dài, sốt và thường có các tổn thương gần phổi (lao màng phổi, lao hạch khí - phế quản).- Sau đó là các lao ngoài phổi như lao màng bụng, màng tim và lao hạch với đặc điểm viêm hạch toàn thân.- Khi tế bào lympho TCD4 dưới 200/mm3 thường có lao cấp và nặng nề như lao kê, lao màng não, lao nhiều bộ phận.- Có thể xuất hiện những thể lao đặc biệt như: u lao ở não và áp xe lạnh ở thành ngực.
    Ảnh minh họa: Nguồn internet
    Triệu chứng gợi ý nhiễm HIV/AIDS: Bệnh nhân lao đồng thời nhiễm HIV/AIDS khi có những biểu hiện sau:- Hạch to toàn thân, viêm da, nấm Candida miệng.- Ỉa chảy kéo dài, mụn giộp tái phát nhiều lần.- Các khối sarcom Kaposi (khối u ác tính) trên da.Điều trị HIV cho người bệnh lao- Điều trị các thuốc chống lao- Điều trị HIV theo phác đồ của bác sĩ theo tình trạng- Điều trị lao cho người bệnh HIV/AIDS không khác biệt so với người bệnh không nhiễm HIV/AIDS.Khi điều trị cần lưu ý một số điểm sau:- Tiến hành điều trị lao sớm ở người HIV có chẩn đoán lao.- Phối hợp điều trị thuốc chống lao với điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội khác bằng Cotrimoxazol và ARV (theo hướng dẫn hiện hành).- Thận trọng khi điều trị phối hợp ARV vì có hiện tượng tương tác thuốc giữa rifampicin với các thuốc ức chế men sao chép ngược non-nucleocide (NVP) và các thuốc ức chế men Protease.
    Ảnh minh họa: Nguồn internet
    Phòng nhiễm lao cho người nhiễm HIVTiêm vaccin BCG: Vắc xin BCG là một vắc-xin sống, nếu tiêm cho trẻ nhiễm HIV thì có nguy cơ vi khuẩn lao lan tràn toàn thân.Dùng thuốcNhững người nhiễm HIV có nhiễm lao, sống ở vùng bệnh lao nặng nề hoặc tiếp xúc với nguồn lây mạnh, gần, kéo dài, nên được dự phòng bằng thuốc:- INH với liều điều trị trong 6 tháng đến 1 năm.- Rifampicin hoặc Rifabutin với liều điều trị có tác dụng phòng lao tốt hơn ở người có TCD4 thấp hơn 200/ mm3.
    Giữa bệnh lao và HIV có những mối liên quan đặc biệt, do vậy việc điều trị và chăm sóc gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để điều trị cho người bệnh lao đồng nhiễm HIV không chỉ cần có sự kiên trì mà còn cần sự cảm thông đặc biệt đối với người bệnh để làm công tác tư tưởng, vận động hợp tác điều trị theo đúng quy trình.

  15. #34
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Tai biến do dùng thuốc chống lao


    (SK Online) - Một người cháu của tôi trong thời gian chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học phổ thông với nhiều lo lắng trước áp lực thi cử nên sức khỏe bị giảm sút, thể trạng gầy đi nhiều. Khi khám bệnh, chụp Xquang phát hiện cháu bị nhiễm lao và được bệnh viện điều trị ngoại trú theo phác đồ quy định. Uống thuốc mới được 1 tuần, tai biến đã xảy ra do một số tác dụng không mong muốn của thuốc.


    TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH


    Hiện tượng mà người cháu tôi gặp phải có thể nói là một tai biến được xác định do ảnh hưởng của thuốc điều trị chống lao. Sau 1 tuần uống thuốc, cháu có dấu hiệu chán ăn, da và niêm mạc trở nên vàng, sau khi ăn vào lại nôn ra, tình trạng sức khỏe bị suy kiệt nặng. Ba mẹ cháu biết tôi là thầy thuốc nên đến hỏi thăm tình hình. Gia đình đem phim chụp Xquang phổi, sổ khám bệnh, các loại thuốc chống lao được cấp và tôi hỏi: “Thuốc uống đã mấy ngày rồi?”. Cháu trả lời: “Dạ khoảng 1 tuần, sau đó cháu thấy ăn không ngon, ăn vào lại nôn ra, da trở nên vàng và cháu rất mệt; trước khi uống thuốc cháu không thấy tình trạng này”. Sau khi xem xét tôi quyết định cho cháu tạm ngừng ngay việc dùng thuốc và đi tái khám lại, đồng thời bảo cháu cung cấp cho bác sĩ điều trị những thông tin cần thiết về phản ứng cơ thể sau điều trị bằng thuốc.

    Ảnh minh họa.

    Với các triệu chứng lâm sàng mà trước khi chưa dùng thuốc chống lao không có, tôi nghi cháu có thể bị viêm gan do dùng thuốc vì gan đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa các chất kể cả thuốc điều trị nên dễ bị tác động xấu của thuốc. Tổn thương gan do thuốc điều trị rất đa dạng nên y văn thường dùng thuật ngữ “viêm gan do thuốc” để chỉ tình trạng này vì trong hầu hết các trường hợp đều thấy hiện tượng viêm gan xảy ra sau khi dùng một số thuốc điều trị.
    Những thuốc có thể gây độc cho gan dẫn đến hiện tượng viêm gan do thuốc có rất nhiều loại khác nhau, trong đó nhóm thuốc kháng sinh được quan tâm hàng đầu vì sử dụng khá phổ biến. Thực tế trong những báo cáo về tác dụng không mong muốn của thuốc kháng sinh gửi về Trung tâm theo dõi phản ứng có hại của thuốc (Trung tâm ADR: adverse drug reaction) ghi nhận tỷ lệ tổn thương gan chiếm 8,9%; thường gặp là do các thuốc chống lao phối hợp isoniazid, rifampicin, ethambutol, pyrazinamid; các loại thuốc khác ít gặp hơn. Các nhà khoa học ghi nhận: Thuốc izoniasid có tác dụng ảnh hưởng làm cho 10% người sử dụng bị tăng men gan, 1% có viêm gan; 0,1% có viêm gan thể tiến triển đột ngột rất nặng; viêm gan xuất hiện chậm và chiếm tỷ lệ khoảng 15% sau 1 tháng. Thuốc rifampicin nếu dùng riêng ít độc cho gan nhưng nếu dùng phối hợp với isoniazid thì dễ phát sinh các chất chuyển hóa gây độc làm cho khoảng 22 - 35% trường hợp có tăng men gan; 5 - 8% có viêm gan; bệnh lý viêm gan có thể xuất hiện nhanh hơn và xuất hiện càng nhanh thì càng nặng; nếu trường hợp có gây mê toàn thân thì dễ xuất hiện thể tiến triển đột ngột rất nặng. Thuốc pyrazinamid có thể gây viêm gan hoại tử cấp tính, thậm chí thể hiện tiến triển đột ngột rất nặng ngay cả khi sử dụng liều thấp. Riêng thuốc ethambutol rất ít khi gây viêm gan.
    Trên cơ sở này, tôi đã giải thích, tư vấn chuyên môn cho cháu và gia đình về cơ địa đặc thù của cháu; đồng thời chỉ định tạm ngưng thuốc đang điều trị để theo dõi. Ngừng thuốc hai ngày, cháu ăn uống trở lại được bình thường nhưng tôi vẫn khuyến cáo gia đình nên đưa cháu đi tái khám, đồng thời điện thoại cho một đồng nghiệp quen đang làm việc tại khoa lao của bệnh viện để nhờ xem xét, quan tâm giúp đỡ. Sau tái khám, ba mẹ cháu đã nói với tôi: “Bác sĩ ở bệnh viện cũng giải thích như bác. Có thể gan cháu bị yếu nên bị ảnh hưởng của thuốc điều trị lao. Bác sĩ cho thêm thuốc bổ trợ gan, thuốc vitamin, tăng cường dinh dưỡng và hướng dẫn cụ thể việc dùng thuốc phù hợp”. Sau tạm ngưng uống thuốc chống lao hơn 10 ngày, chỉ dùng thuốc bảo trợ gan, ăn uống dinh dưỡng để phục hồi, cháu lại tiếp tục điều trị bằng thuốc chống lao và định kỳ tái khám; các tác dụng không mong muốn của thuốc không còn thấy xuất hiện nữa. Qua quá trình điều trị, cháu đã khỏi bệnh, thi tốt nghiệp trung học phổ thông đạt được kết quả mong muốn trong sự vui mừng của bản thân, ba mẹ, gia đình và bạn bè.
    Như vậy, bất kỳ loại thuốc nào ngoài tác dụng điều trị bệnh cũng có thể gây nên những tác dụng không mong muốn hay phản ứng có hại của thuốc tùy thuộc theo cơ địa của mỗi người. Nếu những tác dụng phụ này được phát hiện sớm và có biện pháp xử trí phù hợp thì có khả năng ngăn chặn được tai biến xảy ra do việc dùng thuốc gây nên, đồng thời có biện pháp hỗ trợ để có thể dùng thuốc điều trị bảo đảm an toàn.
    Theo SK&ĐS

  16. #35
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Lao thanh quản

    Giọng khàn - coi chừng lao thanh quảnLao thanh quản có mối liên quan mật thiết với lao phổi. Từ phổi, vi khuẩn lao trong đờm, mủ bị khạc ra ngoài có thể dính vào thanh quản lúc đi qua cơ quan này và gây nhiễm bệnh, nhất là khi có các tổn thương viêm, phù nề, trợt...

    Thanh quản
    Vi khuẩn lao còn đến thanh quản bằng đường bạch huyết và đường máu. Bệnh có thể phối hợp với lao khí - phế quản hoặc đơn độc mà không có tổn thương ở bất kỳ bộ phận nào khác.
    Biểu hiện lao ở thanh quản rất đa dạng:- Thể thâm nhiễm:Niêm mạc thanh quản dày sần từng phần hoặc toàn bộ.- Thâm nhiễm phù nề:Niêm mạc thanh quản dày, mọng đỏ, nắp thanh quản có hình dạng “mõm cá mè” không di động được. Dây thanh âm to dày làm hẹp thanh môn.Thâm nhiễm sùi: Trên nền thâm nhiễm có các nụ sùi.- Thâm nhiễm loét:Các nốt lao vỡ ra để lại các vết loét nông hoặc sâu bờ không đều trên nền niêm mạc dày sần.Thể u lao: Khối u tròn nhẵn hoặc sần sùi như quả dâu.- Thể lao kê:Trên nền niêm mạc dày đỏ có các nốt nhỏ màu xám trắng đồng đều.Dấu hiệu quan trọng nhất của lao thanh quản là thay đổi giọng nói.Khàn tiếng ngày một tăng, thậm chí gây mất tiếng khi dây thanh âm bị phá hủy hoàn toàn. Tiếng ho cũng khác lạ, nghe ồ ồ, rè rè; thoạt đầu ho khan, sau ho có đờm, mủ. Người bệnh nuốt vướng hoặc đau khi nuốt; sặc khi uống nước do nắp thanh quản di động không tốt, đậy không kín hoặc bị phá hủy.Chứng khó thở xuất hiện muộn hơn do dây thanh âm phù nề, khối u lồi vào thanh quản hay do xơ sẹo co kéo, làm hẹp lòng thanh quản. Khó thở đột ngột xuất hiện từng cơn sau các kích thích như nội soi, sinh thiết; hoặc khó thở liên tục với đặc điểm có tiếng rít, nhiều khi tiếng rít to đến mức người bệnh cùng phòng chịu không nổi vào ban đêm.Lao thanh quản có thể bị nhầm lẫn với các bệnh khác có cùng triệu chứng khàn tiếng, khó thở, có tiếng rít như viêm thanh quản do vi khuẩn khác, cúm, ung thư thanh quản, polyp, u nhú thanh quản, liệt dây thanh âm, lao phế quản, u ở trung thất hoặc phổi chèn ép vào khí quản...Để chẩn đoán bệnh, phải tiến hành soi phế quản, sinh thiết để chẩn đoán mô bệnh và tìm tổn thương phối hợp, trước tiên là ở phổi.Về điều trị, ngoài việc sử dụng thuốc chống lao, bệnh nhân còn phải dùng thuốc chống viêm, phù nề (corticoid) để bảo tồn giọng nói và cải thiện khó thở.Việc nội soi thanh quản ngoài chẩn đoán còn rất có ích cho việc chỉ định mở khí quản. Khi thanh quản hẹp, người bệnh khó thở nhiều, phải mở khí quản tạo một đường thông với bên ngoài không qua thanh quản. Đây là một chỉ định bắt buộc.
    http://suckhoevadoisong.net/index.ph...hanh-quan-1469

  17. #36
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Trường hợp nào được cấp thuốc điều trị lao miễn phí, thưa BS?

    16/6/2014 16:25
    Cách đây 1 tháng em có những biểu hiện khó thở, tức ngực, đau dọc sườn trái. Em tới BV Chợ Rẫy khám và phát hiện bị tràn dịch màng phổi lượng ít. Bác sĩ chỉ định chọc dịch xét nghiệm và phát hiện bị tràn dịch màng phổi do lao. Trong hồ sơ bệnh án của em chỉ ghi là tràn dịch màng phổi do lao và bác sĩ không yêu cầu em chọc hút dịch thêm. Như vậy em có bị lao phổi không.

    Em hiện đang học ở TPHCM, nhưng bác sĩ nói em phải về địa phương điều trị mới được miễn phí. Vậy cho em hỏi nếu em điều trị tự túc thì chi phí có tốn kém không? Vì em đang là sinh viên nên cũng rất lo lắng. Nếu em về địa phương điều trị thì liệu trình điều trị thế nào ạ? Em sợ có thể ảnh hưởng đến việc học. Mong bác sĩ trả lời giúp em!

    (Thuy Vu - thuyvu…@gmail.com)


    BS-CK1 NGUYỄN MINH THU:



    Ảnh minh họa


    Chào em,

    Với các câu hỏi em nêu trong thư, AloBacsi trả lời tuần tự như sau:1. Em đang mắc bệnh lao màng phổi. Chọc hút dịch màng phổi nhằm mục đích dùng để chẩn đoán bệnh và cũng có thể dùng để điều trị trong trường hợp bị tràn dịch màng phổi lượng vừa, hay nhiều (xác định bằng XQ hay siêu âm). Việc BS không yêu cầu em chọc hút dịch thêm là do em bị tràn dịch màng phổi do lao lượng dịch ít. Xét nghiệm soi, cấy đàm tìm vi khuẩn lao sẽ trả lời cho câu hỏi là em có bị lao hay không?
    2. AloBacsi được biết, theo Chương trình
    Chống Lao Quốc gia của Bộ Y tế quy định: Người mắc bệnh lao sẽ được cơ sở Y tế địa phương gần nơi cư trú của bệnh nhân cấp thuốc điều trị lao miễn phí.
    Như vậy, dù em không có hộ khẩu thường trú tại TPHCM, nhưng hiện nay em đang học và tạm trú dài hạn tại TPHCM thì em vẫn thì có thể đăng ký điều trị tại Tổ Chống Lao Quận/Huyện gần nơi em cư trú để được cấp thuốc miễn phí, em nhé.
    Chúc em điều trị đạt kết quả tốt!

    http://citinews.net/doi-song/truong-...a-bs--Q2452WI/

    Lần sửa cuối bởi songchungvoi_HIV, ngày 16-06-2014 lúc 16:27.

  18. #37
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Vì sao bị đau tức ngực khi dùng thuốc trị lao?

    25/4/2014 11:23
    Chào bác sĩ, em được chuẩn đoán mắc lao phổi mới và được bác sĩ cho uống thuốc AKurit-4 (ngày uống 3,5v) được 18 ngày rồi nhưng sao em cảm thấy đau tực ngực hoài và đặc biệt là hay ra mồ hôi ở ngực rất nhiều không biết bệnh em có tiến triển nặng hơn không thưa bác sĩ? Em xin cám ơn.


    Ảnh minh họa


    Chào Đức Tín,

    Theo Chương trình
    Chống Lao Quốc gia thì phác đồ điều trị bệnh lao thường sử dụng 4 loại thuốc là Rifampicin, Isoniazid, Ethambutol và Pyrazinamide, và thời gian điều trị kéo dài từ 6 - 8 tháng. Do vậy, nếu sử dụng từng loại thuốc trên riêng lẻ thì số lượng viên thuốc mà bệnh nhân phải uống hằng ngày khá nhiều, gây tâm lý "ngán thuốc" khi điều trị. Akurit-4 (hay gọi là viên 4 trong 1) là viên thuốc phối hợp chứa Rifampicin 150mg, Isoniazid 75mg, Ethambutol 275mg và Pyrazinamide 400mg được người sử dụng ưa thích vì giúp giảm thiểu tối đa số lượng viên thuốc mà bệnh nhân buộc phải sử dụng hằng ngày. Tuy nhiên, nó lại có điều bất lợi là: khi có phản ứng phụ của thuốc xảy ra khi sử dụng thì khó xác định thành phần nào của thuốc gây nên.
    Các triệu chứng đau ngực và đổ mồ hôi mà bạn nêu trong thư chưa xác định đây có phải là nguyên nhân do bệnh tiến triển nặng hay không mà chúng có thể là tác dụng phụ không mong muốn của thuốc. Nếu thấy chúng gây nhiều phiền toái mà bạn không thể chấp nhận được thì bạn cần báo cho bác sĩ theo dõi điều trị để có hướng xử trí, bạn nhé.
    Thân ái!

    http://citinews.net/doi-song/vi-sao-...-lao--LPS3YCA/

  19. #38
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Làm sao biết trẻ bị nhiễm lao, AloBacsi?

    15/1/2014 14:15
    Em chụp CT cắt lớp thấy phổi có 1 cục u do lao phổi. Em đang nuôi con nhỏ (2 tháng tuổi) nên rất sợ cháu bị nhiễm bệnh. Vì gần 2 tháng tuổi cháu mới tiêm phòng lao. Vậy cho em hỏi, ở trẻ sơ sinh làm cách nào để phát hiện bệnh lao.


    Ảnh minh họa


    Chào em,

    Nếu muốn biết bé có nhiễm lao hay không, ở Hà Nội em có thể đưa trẻ đến khám ở Phòng khám Lao Nhi của
    BV Phổi Trung ương em nhé!
    Em bệnh hạch lao cách đây 3 năm sau đó uống thuốc 8 tháng không hết,
    BV Phạm Ngọc Thạch chích 2 tháng và uống thuốc 8 tháng đã khỏi được 2 năm. Bây giờ em bị nổi hạch cổ rất to 17-25mm. Vậy em có phải chích nữa không? (Ngan Kim - kimngan…@gmail.com)
    BS-CK1 NGUYỄN MINH THU:

    Chào em,
    Để điều trị khỏi có một số trường hợp bệnh nhân phải sử dụng thuốc kéo dài 8 - 12 tháng (giống như trường hợp của em điều trị cách đây 3 năm). Hiện nay em lại bị nổi hạch cổ lại, nguyên nhân là gì thì chưa rõ. Em cần đến BV Phạm Ngọc Thạch khám để bác sĩ có chỉ định chọc hút hay làm sinh thiết hạch nhằm xác định rõ nguyên nhân nổi hạch. Dựa vào kết xét nghiệm trên, các bác sĩ sẽ tư vấn và điều trị cho em, em nhé!
    Thân ái

    http://citinews.net/doi-song/lam-sao...acsi--4Y2BLRY/






  20. #39
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Những lưu ý khi điều trị lao phổi?

    Thứ tư, 18/06/2014 16:23
    Em bị lao phổi đang trong thời gian điều trị tấn công ở BV. Xin hỏi AloBacsi, trong quá trình điều trị em cần kiêng những gì?

    Chào bác sĩ, Em bị lao phổi đang trong thời gian điều trị tấn công ở BV. Em có một số thắc mắc, mong bác sĩ tư vấn giúp em ạ.

    1. Trong quá trình điều trị em cần kiêng những gì và chú ý những gì (ăn uống, nghỉ ngơi, vận động,...)?

    2. Trong quá trình mới bắt đầu điều trị thì có hiện tượng mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt, tay chân có cảm giác hơi tê, vùng xung quanh môi cũng hơi tê, có cảm giác da mặt căng ra. Liệu có vấn đề gì không ạ?

    3. Có phải trong quá trình 2 tháng điều trị tấn công chính là thời điểm virut lao mạnh nhất và có nguy cơ lây lan cao không? Làm cách nào để ngăn chặn và hạn chế virut lao lây lan?

    4. Em bị cả viên gan B và sỏi thận, 2 bệnh này có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng gì đến quá trình điều trị không ạ? Mong bác sĩ hồi đáp.

    Em xin chân thành cám ơn! Hiện tại em đang dùng thuốc turbezid 4viên/ngày và tiêm thuốc Streptomycin và một số thuốc khác mà bác sĩ cho. (Đức Anh - Thanh Hóa)

    Ảnh minh họa


    Chào Đức Anh,

    Với các thắc mắc của em trong thư, AloBacsi xin giải đáp như sau:1. Bệnh lao phổi chỉ xuất hiện khi có đủ hai điều kiện: sức đề kháng của cơ thể giảm sút và bệnh nhân tiếp xúc với nguồn lây là những người bệnh lao mang nhiều vi trùng (trong chuyên môn còn gọi là lao phổi AFB(+))
    Khi vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể chúng ta ( chủ yếu qua đường hô hấp) – hiện tượng này gọi là cơ thể bị “nhiễm Lao”. Trong trường hợp sức đề kháng của cơ thể suy giảm, thường gặp trong các trường hợp như: mắc các bệnh làm suy giảm hệ miễn dịch (nhiễm HIV/AIDS, tiểu đường…), dùng thuốc Corticoides kéo dài, suy dinh dưỡng, suy nhược cơ thể, người già, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai,… thì “nhiễm lao” sẽ trở thành “mắc bệnh” lao .
    Với chiều cao 178cm và cân nặng chỉ có 55kg thì em thuộc loại “ nhẹ cân” – không cân đối về dinh dưỡng- thể chất, là điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh tấn công vào cơ thể và phát triển thành bệnh - thực tế là em đã nhiễm và mắc bệnh Lao. Do vậy, vấn đề quan trọng hiện nay là phải nâng cao thể chất và hạn chế tiếp xúc với nguồn lây.

    Cụ thể là em cần nghỉ ngơi, không làm việc quá sức, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng (tránh dùng rượu bia có hại thêm cho gan, vì các thuốc điều trị lao vốn đã làm ảnh hưởng đến chức năng của gan), đồng thời phát hiện và điều trị sớm các nguyên nhân có thể làm giảm sức đề kháng cơ thể: tiểu đường, nhiễm HIV, các bệnh lý mạn tính dùng thuốc ức chế miễn dịch kéo dài…
    Song song với việc tầm soát các nguyên nhân trên, em cần hạn chế tiếp xúc với nguồn lây bằng cách: đeo khẩu trang khi nói chuyện, ho, hắt hơi, khi tiếp xúc với người xung quanh. Động viên những người thân sống chung với em hay những người mà em thường tiếp xúc với họ, nhanh chóng đến các cơ sở Y tế khám khi có triệu chứng nghi lao như: ho kéo dài trên 2 tuần, sốt về chiều, sụt cân, đau ngực…
    2. Hiện em đang dùng thuốc turbezid 4viên/ngày và tiêm thuốc Streptomycin, nếu có hiện tượng mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt, tay chân có cảm giác hơi tê, vùng sung quanh môi cũng hơi tê, có cảm giác da mặt căng, là do tác dụng phụ của thuốc, em cần báo cho bác sĩ điều trị để kịp thời xử trí, em nhé.
    3. Quá trình 2 tháng điều trị tấn công không phải là “thời điểm virut lao mạnh nhất” như em nghĩ, mà đây chính là giai đoạn người bệnh vẫn còn “nguy cơ lây lan cao" cho những người tiếp xúc với bệnh nhân. Do vậy, để ngăn chặn và hạn chế vi khuẩn lao lây lan trong giai đoạn này, bệnh nhân cần đeo khẩu trang và hạn chế giao tiếp với người xung quanh (như AloBacsi đã đề cập ở trên)
    4. Thuốc điều trị lao có tác dụng phụ có thể gây viêm gan, suy thận, và ảnh hưởng đến chức năng một số bộ phận khác trong cơ thể… Biến chứng của viêm gan Siêu vi B và sỏi thận ảnh hưởng đến gan và thận. Vì vậy, nếu đã mắc 2 bệnh trên, em cần phải theo dõi chức năng gan (men SGOT, SGPT), và chức năng thận (BUN, Creatinin), em nhé.
    Mong rằng những giải đáp trên sẽ giúp em hiểu thêm về bệnh của mình.
    Chúc việc trị liệu của em có kết quả tốt đẹp!
    BS-CK1 Nguyễn Minh Thu - AloBacsi.vn


  21. #40
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,180
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,179 lần
    Hạch cổ sưng to, có phải dấu hiệu lao kháng thuốc?

    21/6/2014 08:30
    Con bị lao hạch, đang điều trị ở tháng thứ 7. 5 tháng đầu con dùng thuốc Turbezid và Ethambutol uống vào buổi sáng 6h30 trước khi ăn 45 phút, buổi trưa uống thêm 2 viên thuốc bổ gan Rebecca 25mg sau ăn. Đến tháng thứ 6 giảm liều còn 3,5 viên Turbezid/ngày + 2 viên Rebecca 25mg uống trưa sau ăn.

    Giờ đến tháng thứ 7 con vẫn dùng liều 3,5 viên/ngày + trưa và chiều, mỗi lần 1v sau ăn. Nhưng khi siêu âm thì kết quả hạch bên cổ phải kích thước 7,2mmx15,5mm, hạch bên cổ trái kích thước 3,2mmx6.7mm. Có tăng so với tháng điều trị thứ 5 là: hạch cổ phải kích thước 7,1mmx15,1mm. hạch cổ trái 2,8mm x 6,2mm.

    Tháng này xét nghiệm máu chỉ số
    Bilirubin direct tăng đến 613 mol/l. Vậy có nguy hiểm không ạ? Trong thời gian điều trị con uống đủ liều, đúng giờ mà sao hạch cổ bên phải lại tăng kích thước? Bác sĩ ơi, kết quả của con như vậy có phải là bị lao kháng thuốc không? Nhờ bác sĩ tư vấn cho con.

    (Pe Ngok - TPHCM)


    BS-CK1 NGUYỄN MINH THU:

    Ảnh minh họa


    Chào em,

    là một thể lao nhẹ, ít nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh và điều trị thường có kết quả khỏi cao (trên 90%). Tuy nhiên rất khó tiên lượng diễn biến của lao hạch. Khoảng 20% trường hợp thì hạch bị nhuyễn hóa và có thể rò mủ. Khoảng 25% trường hợp, hạch tiếp tục to lên hoặc xuất hiện thêm hạch mới mặc dù bệnh nhân vẫn đang được điều trị. Đối với những trường hợp này vẫn nên tiếp tục điều trị cho bệnh nhân.Đối với trường hợp của em, điều trị lao hạch có thể kéo dài từ 8 đến 12 tháng. Phác đồ và thời gian điều trị lao hạch do bác sĩ chuyên khoa chỉ định dựa trên việc đáp ứng với thuốc điều trị và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Nếu thấy tình trạng sức khoẻ bình thường, thì em yên tâm tiếp tục điều trị vì kết quả siêu âm hạch lần trước và sau cũng chỉ chênh có chút xíu (tính bằng 1/10mm).
    Trong trường hợp tổng trạng sức khoẻ bệnh nhân kém đi, nghi ngờ lao kháng đa thuốc, bác sĩ sẽ chỉ định cho em làm sinh thiết hạch và làm kháng sinh đồ.
    Chúc em có kết quả điều trị tốt đẹp!
    http://citinews.net/doi-song/hach-co...huoc--BMAYLMA/

Trang 2 của 8 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •