Trang 1 của 8 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 20 của 145

Chủ đề: Lao là gì?

  1. #1
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần

    Lao là gì?

    LAO

    Trưởng khoa Phòng Khám – Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
    Cố vấn chuyên môn Trung tâm điều trị bệnh hô hấp Phổi Việt

    1. Nguyên nhân nào gây bệnh lao?


    - Lao là một bệnh do vi trùng, lây chủ yếu bằng đường hô hấp, nghĩa là do hít phải vi trùng lao vào phổi. Bệnh truyền từ người này sang người khác. Vi trùng gây bệnh là trực khuẩn lao có tên khoa học là Mycobacterium tuberculosis. Bệnh lao không có tính di truyền.
    - Trực khuẩn lao không có trong đất; kho chứa vi trùng lao chủ yếu là những bệnh nhân mắc lao phổi. Những bệnh nhân này thường có những "hang lao", tức là những lỗ lủng trong phổi, có chứa rất nhiều vi trùng lao. Một hang lao có đường kính 2 cm chứa khoảng 100 triệu vi trùng.
    2. Bệnh lao lây như thế nào?

    - Khi bệnh nhân lao phổi nói, nhất là khi ho hoặc hắt hơi, họ sẽ bắn ra chung quanh muôn ngàn những hạt đàm nhỏ, trong các hạt đều có chứa một số vi trùng lao: đó là các hạt nhỏ gây nhiễm. Số lượng các hạt nhỏ bắn ra chung quanh bệnh nhân rất lớn khi bệnh nhân ho (3500) hoặc hắt hơi (1.000.000). Khi tiếp xúc với không khí, bề mặt những hạt nhỏ này sẽ khô dần đi và trở thành những hạt rất nhẹ luôn chứa vi trùng lao còn sống lơ lửng trong không khí một thời gian. Ở nơi tù hãm, những hạt này còn lơ lửng trong không khí lâu hơn nữa và các vi trùng có thể sống nhiều giờ trong bóng tối.
    - Ánh sáng trực tiếp của mặt trời tiêu hủy vi trùng lao nhanh chóng. Do đó làm thông thoáng và phơi sáng nơi bệnh nhân lao sống có thể làm giảm nguy cơ lây nhiễm cho những người sống tiếp xúc với họ.
    - Như vậy những người sống gần hay ngủ gần bệnh nhân sẽ có nguy cơ hít phải những hạt nhỏ gây nhiễm. Nguy cơ lây nhiễm càng cao khi sự tiếp xúc càng mật thiết vì liên quan đến mật độ vi trùng trong không khí. Như vậy hai yếu tố chủ yếu xác định nguy cơ lây truyền vi trùng lao cho người lành là: nồng độ những hạt nhỏ gây nhiễm lơ lửng trong không khí, và thời gian mà người đó hít thở không khí này. Ta dễ dàng hiểu rằng một tỷ lệ lớn trẻ em sống gần nguồn lây sẽ bị nhiễm lao. Con nhỏ của một bà mẹ đang ho ra vi trùng có nguy cơ bị lây nhiều nhất.
    - Bệnh nhân có vi trùng dương tính qua soi trực tiếp (nhìn thấy được bằng kính hiển vi) thì lây nhiều hơn vì họ khạc ra nhiều vi trùng hơn so với những người có vi trùng chỉ phát hiện bằng nuôi cấy.

    3. “Nhiễm lao” khác với “bệnh lao” ra sao?

    Khi vi trùng lao xâm nhập vào cơ thể ta gọi là nhiễm lao. Ở những nơi có tình hình mắc lao cao, hầu hết những người trẻ tuổi đều đã bị nhiễm lao nhưng chỉ một tỷ lệ nhỏ trong số đó mắc bệnh lao. Khả năng lao nhiễm trở thành lao bệnh phụ thuộc vào hai yếu tố:
    - Mức độ nhiễm, nghĩa là số lượng vi khuẩn hít phải, nhiều hay ít.
    - Sức đề kháng của cơ thể.
    Sau khi xâm nhập vào phổi, vi trùng lao sẽ sinh sôi nẩy nở và theo máu, bạch huyết phát tán đi khắp cơ thể. Thường thì hệ thống miễn dịch của cơ thể ta sẽ ngăn chận và tiêu diệt chúng, ta chỉ là người nhiễm lao.Trong một số trường hợp, nhiễm lao có thể phát triển nhanh chóng thành bệnh lao. Ở một số trường hợp khác, vi khuẩn sẽ nằm im trong trạng thái ngủ do bị hệ thống bảo vệ của cơ thể ức chế. Khi sức bảo vệ của cơ thể bị suy yếu, thí dụ do suy dinh dưỡng, nhiễm HIV, do tuổi già, vi khuẩn lao ngủ có thể sẽ sinh sản và gây ra bệnh lao. Lúc này người nhiễm lao trở thành người bệnh lao.
    4. Triệu chứng của bệnh lao là gì?

    Vi trùng lao có thể gây bệnh ở bất kỳ bộ phận nào của cơ thể: lao phổi, lao xương, lao da, lao thận, lao màng não, lao hạch, v.v. Lao phổi là thường gặp nhất, lao ngoài phổi ít gặp hơn. Chỉ có lao phổi mới lây.
    Người bị lao phổi thường có những triệu chứng sau đây:
    - Ho khạc kéo dài trên 3 tuần
    - Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi
    - Sốt nhẹ về chiều
    - Ra mồ hôi đêm
    - Đau ngực, khó thở
    - Ho ra máu
    5. Ai dễ mắc lao?

    - Người sống chung với bệnh nhân lao phổi có vi trùng trong đàm, đặc biệt là trẻ em và thanh niên
    - Người nhiễm HIV/AIDS
    - Người suy dinh dưỡng, đái tháo đường, người nghiện, người dùng các thuốc giảm miễn dịch kéo dài: corticoid
    - Người vô gia cư, quản giáo, can phạm sống trong trại giam.
    6. Làm gì khi nghi ngờ bị mắc lao?

    Khi có những triệu chứng như nêu trên hãy nghĩ đến bệnh lao, và hãy đến ngay các Tổ Lao quận huyện, các cơ sở y-tế khám bệnh, để được bác sĩ chuyên khoa lao khám bệnh, chụp hình phổi và quan trọng nhất là tìm vi trùng lao trong đàm. Tại đó, bệnh nhân sẽ được thử 3 mẫu đàm: mẫu 1 lấy tại chỗ lần khám 1, mẫu 2 lấy tại nhà và mẫu 3 lấy tại chỗ lần khám 2 vào ngày hôm sau. Bệnh nhân cần chú ý khạc đàm sâu đúng kỹ thuật, không lấy nước bọt hoặc nước mũi. Nếu tìm thấy vi trùng lao trong đàm, người có những triệu chứng trên đã mắc lao phổi. Nếu không tìm thấy vi trùng lao, Bác sĩ chuyên khoa lao sẽ hướng dẫn cho bệnh nhân những điều cần thiết tiếp theo.

    7. Người bệnh lao sẽ được điều trị như thế nào?


    Sau khi được chẩn đoán là mắc lao, bệnh nhân sẽ được thu dung điều trị trong khuôn khổ Chương trình Chống lao Quốc gia (CTCLQG) tại các Tổ lao Quận Huyện nơi bệnh nhân cư trú. Bệnh nhân được điều trị theo phương pháp DOTS. Tất cả thuốc chống lao của CTCLQG được cấp miễn phí cho bệnh nhân.
    DOTS là gì?
    Từ năm 1994, Tổ chức Y-tế thế giới đã khuyến cáo một chiến lược chống lao có tên gọi là DOTS (Directly Observed Treatment, Short - course) có nghĩa là "Điều trị hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp". Chiến lược của CTCLQG hiện nay là áp dụng khuyến cáo này.
    Mục đích của DOTS là:
    - Điều trị khỏi cho bệnh nhân
    - Rút ngắn thời gian lan truyền của bệnh
    - Tránh kháng thuốc
    Nội dung:
    - Trực tiếp giám sát việc dùng từng liều thuốc của bệnh nhân, đảm bảo bệnh nhân dùng đúng loại thuốc, đúng liều, đều đặn và đủ thời gian. Việc giám sát sẽ được thực hiện tại các Tổ Lao Quận Huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế phường xã. Thân nhân bệnh nhân cũng có trách nhiệm tham gia nhắc nhở bệnh nhân.
    - Giai đoạn tấn công: ít nhất 4 loại thuốc chính S, H, R, Z với thời gian 2-3 tháng
    - Giai đoạn duy trì: ít nhất 2 loại thuốc, thời gian 4-6 tháng.
    8. Bệnh lao phổi nếu không được phát hiện điều trị sớm có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm gì?

    Bệnh lao phổi có nhiều biến chứng. Biến chứng có thể xuất hiện như bệnh cảnh lâm sàng mở đầu, nghĩa là có biến chứng rồi mới phát hiện ra bệnh, hoặc xảy ra trong quá trình tiến triển của bệnh. Các biến chứng hay gặp là:
    1. Ho ra máu: có thể ít, vừa hay nhiều. Ho ra máu sét đánh, do bệnh lao làm hoại tử thành của một động mạch, là biến chứng gây tử vong trong vòng vài phút.
    2. Tràn khí màng phổi: do vỡ một hang lao vào khoang màng phổi, là biến chứng nặng. Vi trùng lao từ hang lao nhiễm vào màng phổi và gây ra tràn mủ - tràn khí màng phổi. Điều trị khó khăn, vừa điều trị lao, vừa phải đặt ống dẫn lưu màng phổi.
    3. Tràn dịch màng phổi: do tiếp cận với một ổ lao phổi đang tiến triển
    Biến chứng có thể xảy ra sau khi bệnh lao đã được chữa khỏi tạo thành các di chứng của bệnh lao phổi:

    4. Dãn phế quản: có triệu chứng ho đàm và ho ra máu. Không nên lầm lẫn là bệnh tái phát. Chỉ khi tìm thấy vi trùng lao mới là tái phát.
    5. Suy hô hấp mãn: khi có di chứng lan rộng làm phổi mất chức năng.
    6. Tràn khí màng phổi: do vỡ một bóng khí. Tràn khí này không đi kèm theo nhiễm trùng màng phổi.
    7. U nấm phổi: do vi nấm Aspergillus fumigatus sinh sôi trong một hang lao cũ trong phổi. Điều trị bằng phẫu thuật.
    9. Làm thế nào để trị dứt bệnh lao?

    - Lao là bệnh có thể điều trị khỏi. Bệnh nhân phải được bắt đầu điều trị càng sớm càng tốt ngay sau khi được chẩn đoán, đặc biệt là những người lao phổi M(+), tức là người có vi trùng nhìn thấy trực tiếp trong đàm. Tuy nhiên, điều trị lao đòi hỏi thời gian dài, bệnh nhân cần phải hiểu và tuân theo những nguyên tắc điều trị: dùng thuốc đúng liều, đều đặn, đủ thời gian.
    - Tại sao?
    Vì trong cơ thể người mắc bệnh lao có nhiều dân số trực khuẩn lao khác nhau:
    · Nhóm trực khuẩn đang hoạt động và sinh sản: loại này có nhiều trong các hang lao, tức là các lỗ lủng trong phổi theo cách nói thông thường. Nhóm này dễ bị thuốc kháng lao tiêu diệt.
    · Nhóm sinh sản chậm nằm trong các đại thực bào, khó bị tiêu diệt hơn.
    · Nhóm ngủ yên, sinh sản cực kỳ chậm, nằm rải rác trong các mô cơ thể. Các vi khuẩn trong nhóm này không sinh sản nhưng vẫn sống. Khi sức đề kháng của cơ thể suy yếu đi chúng sẽ hoạt động trở lại. Nhóm này rất khó bị tiêu diệt.
    Mặt khác vi khuẩn lao có đặc điểm là có một số vi khuẩn tự nhiên có khả năng chống lại được thuốc kháng lao, gọi là kháng thuốc (lờn thuốc). Số vi khuẩn càng đông càng có khả năng có nhiều vi khuẩn kháng thuốc.
    - Do đó muốn trị dứt bệnh lao cần phải:
    · Tiêu diệt được tất cả các dân số vi trùng lao
    · Không cho có hiện tượng kháng thuốc xảy ra
    - Vì thế, việc điều trị lao được dựa trên các nguyên tắc sau:
    · Phối hợp cùng lúc nhiều thuốc chống lao để tránh xuất hiện các vi khuẩn kháng thuốc. Trong giai đoạn tấn công phải phối hợp 3-4 thứ thuốc, giai đoạn duy trì phối hợp 2-3 thứ thuốc.
    · Dùng thuốc đúng liều: liều thấp sẽ không hiệu quả dễ sinh ra vi trùng kháng thuốc, dùng liều cao dễ gây tai biến
    · Dùng thuốc đều đặn: các thuốc kháng lao phải tiêm và uống cùng lúc và cố định giờ trong ngày để thuốc có thể đạt đỉnh cao trong máu. Thuốc phải uống xa bữa ăn để hấp thụ vào máu tối đa.
    · Dùng thuốc đủ thời gian để tránh tái phát: hiện nay điều trị lao gồm hai giai đoạn:
    Tấn công: kéo dài từ 2-3 tháng, mục đích là làm giảm nhanh số lượng vi trùng kể cả những vi trùng đang ngủ, để ngăn chận đột biến kháng thuốc
    Duy trì: kéo dài 4-6 tháng, mục đích là tiêu diệt toàn bộ các vi trùng còn sót lại để tránh tái phát.
    Thực hiện đúng những nguyên tắc trên, bệnh lao sẽ được trị dứt dễ dàng. Không giữ đúng nguyên tắc, uống thuốc không đúng liều, không đều, không đủ thời gian, bệnh không thể chữa khỏi. Bệnh nhân có thể tử vong, bệnh trở thành mạn tính và lây sang cho nhiều người khác và khi đó đúng là một chứng nan y!
    ads

  2. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    oneone (07-01-2014)

  3. #2
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Lao Phổi là gì ? Cách điều trị và phòng ngừa bệnh Lao phổi

    Lao là bệnh truyền nhiễm thường gặp nhất ở Việt Nam. Mỗi năm lao cướp đi gần 3 triệu người trên thế giới. Đa số các ca tử vong này xảy ra tại các nước đang phát triển. Theo thống kê, khoảng một phần ba dân số thế giới bị nhiễm vi trùng lao. Tuy nhiên, hầu hết không có triệu chứng của bệnh. Ở những người này, vi trùng lao không hoạt động và người đã bị nhiễm lao trong giai đoạn bất hoạt này không lây bệnh sang người khác. Khi hệ thống miễn nhiễm của cơ thể bị yếu đi, vi trùng lao sẽ “vùng dậy”, tái hoạt và gây ra bệnh.
    Trên phạm vi toàn thế giới, lao là bệnh truyền nhiễm có tỉ lệ tử vong đứng thứ hai, chỉ sau HIV. Nhiều người bị HIV cũng đã bị chết vì sự hoành hành của lao khi hệ miễn dịch suy yếu. Do đó, làm việc quá sức, thiếu dinh dưỡng có thể là một điều kiện thuận lợi để vi trùng lao bùng lên hoành hành. Đó là chất xúc tác, là điều kiện thuận tiện để lao phát triển.

    Vậy nguyên nhân gây bệnh lao là gì?


    Lao phổi là thể lao phổ biến nhất trong các thể lao. Tuy nhiên, trong khoảng một phần ba các trường hợp, lao cũng có thể xảy ra ở các phần khác của cơ thể, ví dụ như lao hạch bạch huyết, lao màng não, lao khớp, lao thận, lao phúc mạc. Ở đây, chúng ta chỉ bàn về lao phổi.
    Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh lao nhưng căn nguyên chính là do vi khuẩn lao người (Mycobacteria Tuberculosis Hominis) và vi khuẩn lao bò (M.bovis), vi khuẩn này lây sang người khi chúng ta uống sữa bò không tiệt trùng. Đặc biệt, hiện nay bệnh lao thường xuyên đi kèm với HIV/AIDS. Những người bị nhiễm HIV, hệ miễn dịch kém vì vậy luôn là đối tượng hàng đầu của bệnh lao. Tỉ lệ tử vong vô cùng cao và nhanh chóng.
    Dấu hiệu nhận biết lao


    Dấu hiệu nhận biết lao thường không rõ ràng. Rất nhiều người có vi khuẩn lao nhưng không phát bệnh (80-90%). Chỉ đến khi gặp điều kiện thuận lợi bệnh mới tái phát. Những điều kiện thuận lợi ở đây có thể nhắc đến như : Suy dinh dưỡng, kém ăn, mất ngủ, hút thuốc lá, làm việc nặng nhọc, tiếp xúc nhiều với môi trường ô nhiễm, khói bụi, hút thuốc lá, uống rượu bia…khi đó sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút khiến vi khuẩn lao dễ dàng “thức dậy”, sinh sản, phát triển tràn lan.
    Biểu hiện chính của người bệnh lao là ho, có thể kéo dài hơn 2 tuần, nhưng thông thường bệnh nhân lao thường hay gặp triệu chứng điển hình là ho khan, ho đờm, ho ra máu... Ngoài ra bệnh nhân lao thường bị sút cân trầm trọng, kém ăn, mệt mỏi, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi “trộm” ban đêm, đau ngực, đôi khi khó thở, cảm giác mệt mỏi, uể oải…Những người có dấu hiệu này phải nghĩ ngay đến khả năng mắc bệnh lao để có phương hướng điều trị kịp thời.

    Lao lây lan như thế nào?


    Lao không phải là bệnh di truyền nhưng khả năng lây truyền thì vô cùng cao. Mức độ lây lan rất nhanh, rất nhiều bệnh nhân lao chủ quan vô tình lây bệnh cho những người xung quanh mà không biết. Vi khuẩn lao vào cơ thể qua đường hô hấp là chủ yếu, khi bệnh nhân lao phổi ho, hắt hơi sẽ phát tán các vi khuẩn ra không khí, lây lan cho người bình thường.
    Mặt khác, những bệnh nhân lao thường khạc nhổ khá nhiều đờm, trong đờm có rất nhiều vi khuẩn lao, khi ra môi trường không khí vi khuẩn lao có thể sống được 3 – 4 tháng. Đây là mối đe dọa vô cùng nguy hiểm.
    Cách trị và phòng bệnh Lao phổi


    Hầu hết những người bị nhiễm vi khuẩn lao không có triệu chứng nhưng khi làm phép thử lao dưới da () vẫn sẽ cho kết quả dương tính (trong vòng 3 tháng), kết quả này thường sẽ duy trì suốt đời. Chỉ có một số nhỏ những người bị nhiễm vi trùng lao sẽ có triệu chứng của bệnh lao. Các triệu chứng sẽ khác nhau tùy theo loại bệnh:
    1. Bệnh lao tiên phát (có triệu chứng ngay từ khi bị nhiễm vi trùng lao ):
    Những người bị bệnh này, đặc biệt là trẻ em, đôi khi chỉ bị sốt nhẹ và uể oải. Các triệu chứng khác có thể là:

    • _ Ho.
    • _ Đổ mồ hôi trộm ban đêm .
    • _ Kém ăn .
    • _ Đau ngực .
    • _ Không lên cân như các trẻ bình thường khác.

    2. Bệnh lao thứ phát

    • _ Sốt
    • _ Sụt cân
    • _ Đổ mồ hôi trộm ban đêm .
    • _ Kém ăn .
    • _ Đau ngực .
    • _ Yếu sức .
    • _ Luôn uể oải, “muốn bệnh”.
    • _ Bệnh nhân cũng thường bị ho, lúc đầu có thể là ho khan, về sau có đờm màu xám xỉn. Khi bệnh đã trở nặng, có thể ho ra máu, hụt hơi, khó thở.

    Hiện nay, tất cả các thể lao được phát hiện sớm có thể điều trị khỏi gần như hoàn toàn bằng các thuốc chống lao đặc hiệu. Với điều kiện phải điều trị bệnh lao một cách đầy đủ, nghiêm túc: đúng thuốc, đúng liều, phối hợp đủ thuốc, đủ thời gian. Để phòng bệnh, tiêm phòng vaccin BCG cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi, có thể hạn chế cho trẻ mắc lao cấp tính tới 80%
    .

    Theo Hương Nguyễn.

  4. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    oneone (07-01-2014)

  5. #3
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Lao Phổi là gì ? Cách trị và phòng bệnh Lao phổi - BS Nguyễn Trần Hoàng
    Lao là gì ? Ngoài lao phổi, còn có những loại lao nào khác ?
    Lao là một trong số những bệnh thường gặp nhất ở Việt Nam. Lao là một bệnh truyền nhiễm. Ở con người, nó được gây ra bởi một loại vi trùng có tên gọi là Mycobacterium tuberculosis. Bệnh này giết hơn hai triệu người mỗi năm trên toàn thế giới. Đa số các tử vong này xảy ra ở các nước đang phát triển.
    Khoảng một phần ba dân số thế giới bị nhiễm vi trùng lao. Tuy nhiên, hầu hết không có triệu chứng của bệnh. Ở những người này, vi trùng ở dạng không hoạt động và người đã bị nhiễm lao trong giai đoạn bất hoạt này không lây bệnh sang người khác. Khi hệ thống miễn nhiễm của cơ thể bị yếu đi, vi trùng lao sẽ “vùng dậy”, tái hoạt và gây ra bệnh.
    Trên phạm vi toàn thế giới, lao là bệnh truyền nhiễm gây chết đứng hàng thứ hai, chỉ sau Siđa - HIV. Nhiều người bị Siđa cũng đã bị chết vì sự hoành hành của lao khi hệ miễn dịch đã quá suy yếu.
    Nhiều người vẫn tin rằng làm việc quá sức mà thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân của lao, có đúng không? Lao tâm, lao lực có ảnh hưởng hay liên quan gì đến lao phổi hay không?
    Như đã nói, bệnh lao gây ra bỡi vi trùng lao. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, nếu cơ thể khỏe mạnh, vi trùng sẽ nằm yên, chỉ khi cơ thể yếu đi, vi trùng mới lợi dụng cơ hội, vùng lên để hoành hành, tàn phá cơ thể.
    Do đó, làm việc quá sức, thiếu dinh dưỡng có thể là một điều kiện thuận lợi để vi trùng lao bùng lên hoành hành. Đó là chất xúc tác, là điều kiện thuận tiện để lao phát triển, chứ không phải là nguyên nhân.
    Lao thường ảnh hưởng phổi nhiều nhất. Tuy nhiên, trong khoảng một phần ba các trường hợp, lao cũng có thể ảnh hưởng các phần khác của cơ thể, ví dụ như các lao các hạch bạch huyết, lao màng não, lao khớp, lao thận, lao phúc mạc.
    Có mấy loại lao phổi ?
    Vi trùng lao lây truyền qua đường hô hấp. Vi trùng nằm trong các hạt nhỏ li ti văng ra không khí khi ta ho hay ách xì. Tiếp xúc với bệnh nhân lao một lần thường ít khi gây ra bệnh.
    Tuy nhiên, tiếp xúc càng nhiều thì nguy cơ bị nhiễm càng cao. Đụng chạm, dùng chung khăn, ăn uống chung không làm bệnh bị lan truyền. Bệnh chỉ xảy ra khi các hạt khí chứa vi trùng được hít vào phần sâu nhất của phổi, sinh con đẻ cái ở đó và lan tràn ra toàn cơ thể.
    Bệnh lao phổi hoạt động có thể xảy ra ở hai dạng chính khác nhau: lao phổi tiên phát, lao phổi thứ phát, trong một số ít trường hợp, vi trùng lao có thể vào máu lan tràn khắp cơ thể.
    Lao phổi tiên phát là thế nào ?
    Khoảng 5 phần trăm các bệnh nhân, hệ thống miễn dịch không thể ngăn chận vi trùng ngay từ lúc xâm nhập đầu tiên, và do đó vi trùng hoành hành ngay từ đầu. Những người bị lao phổi tiên phát, thường gặp hơn ở trẻ em nhỏ, đặt biệt là ở các nước còn nghèo, những người bị suy yếu miễn dịch, ví dụ như Siđa, cũng dễ bị lao phổi tiên phát hơn.
    Lao phổi thứ phát xảy ra như thế nào ?
    Khoảng 95 phần trăm những người bị nhiễm lao có thể bất hoạt vi trùng lao ngay từ đầu. Đa số những người này không bao giờ bị lao, chỉ có ở một số nhỏ, vi trùng có thể tái hoạt và sinh con đẻ cái khi cơ thể bị yếu đi, thắng được sức đề kháng của cơ thể. Vi trùng sau đó có thể tàn phá những phần lớn của phổi, tại ra các hang lao chứa đầy vi trùng lao và các tế bào phổi đã bị chết.
    Cách trị và phòng bệnh Lao phổi
    Hầu hết những người bị nhiễm vi trùng lao không có triệu chứng. Ở những người này, thử lao dưới da ( gọi là xét nghiệm PPD ) sẽ thấy kết quả dương tính trong vòng ba tháng, kết quả dương tính này thường sẽ duy trì suốt đời.
    Chỉ có một số nhỏ những người bị nhiễm vi trùng lao sẽ có triệu chứng của bệnh lao. Các triệu chứng sẽ khác nhau tùy theo loại bệnh:
    Bệnh lao tiên phát ( có triệu chứng ngay từ khi bị nhiễm vi trùng lao ):
    Những người bị bệnh này, đặc biệt là trẻ em, đôi khi chỉ bị sốt nhẹ và uể oải. Các triệu chứng khác có thể là:
    - Ho .
    - Đổ mồ hôi trộm ban đêm .
    - Kém ăn .
    - Đau ngực .
    - Không lên cân như các trẻ bình thường khác.
    Bệnh lao thứ phát ( vi trùng lao tái hoạt sau một thời gian dài nằm im trong cơ thể ) có thể gây ra các triệu chứng như:
    - Sốt .
    - Sụt cân .
    - Đổ mồ hôi trộm ban đêm .
    - Kém ăn .
    - Đau ngực .
    - Yếu sức .
    - Luôn uể oải, “muốn bệnh”.
    Bệnh nhân cũng thường bị ho, lúc đầu có thể là ho khan, về sau có đàm màu xám xỉn. Khi bệnh đã trở nặng, có thể ho ra máu, hụt hơi, khó thở.
    Khi bệnh phát triển bên ngoài phổi, các triệu chứng sẽ tùy theo cơ quan, bộ phận nào của cơ thể bị nhiễm bệnh. Ví dụ lao hạch sẽ gây ra sưng hạch, thường là hạch cổ. Nếu lao xương khớp sẽ gây sưng đau xương khớp, thường bị ảnh hưởng nhất là khớp hông, gối, xương sống. Lao đường tiết niệu có thể gây ra đau vùng hông, tiểu gắt, tiểu ra máu...
    Trong trường hợp lao kê, lan ra toàn cơ thể, ngoài các triệu chứng ở phổi như kể trên, có thể có các triệu chứng không đặc hiệu khác như nhức đầu, rối loạn thị giác, đau khớp, sưng hạch, nổi ban dưới da, đau bụng...
    Bệnh thường diễn tiến ra sao?
    Như đã nói, ở những người khoẻ mạnh, hệ miễn nhiễm của cơ thể thường bất hoạt vi trùng suốt đời. Xét nghiệm PPD dưới da thường sẽ dương tính suốt đời, nhưng cơ hội vi trùng tái hoạt chỉ có khoảng 10 phần trăm.
    Ở những người mà vi trùng lao hoạt động (tiên phát hay thứ phát), thường cần phải được điều trị hai tuần trở lên, họ mới ngưng khả năng lây bệnh cho người khác. Tuy nhiên để trị dứt hẳn bệnh, tùy theo loại vi trùng có kháng thuốc hay không mà thời gian cần điều trị sẽ khác nhau.
    Nếu vi trùng lao không kháng thuốc, thời gian điều trị thường cần khoảng ít nhất là sáu tháng. Nếu gặp vi trùng kháng nhiều thuốc, thời gian cần điều trị có thể kéo dài đến 24 tháng.
    Nếu không được điều trị, hơn phân nửa các bệnh nhân bị lao hoạt động sẽ chết trong vòng năm năm.
    Hiện nay có cách điều trị hẳn bệnh không ? Xin cho biết cách điều trị ?
    Hiện nay, lao là bệnh hầu như hoàn toàn có thể chữa được. Bác sĩ thường cần phải kết hợp bốn loại thuốc khác nhau trong vòng sáu tháng cho các loại vi trùng chưa kháng thuốc. Một số thuốc chỉ cần dùng trong vòng hai tháng đầu, sau đó các thuốc còn lại sẽ được tiếp tục cho đủ ít nhất là sáu tháng.
    Các chủng vi trùng lao kháng thuốc, nhất là kháng với nhiều thuốc, thường phải cần nhiều thời gian hơn để có thể chữa khỏi. Các thuốc này lại thường rất mắc tiền, có nhiều tác dụng phụ hơn, và cũng kém hiệu quả hơn các loại thuốc tiêu chuẩn. Thời gian điều trị có thể cần phải kéo dài đến hai năm.
    Trước đây, các loại lao gây ra bởi các chủng vi trùng lao kháng thuốc hầu như không thể trị được, vì thuốc quá mắc, trung bình tốn khoảng mười lăm ngàn đô la Mỹ mỗi năm. Gần đây, với sự trợ giúp của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, thuốc ở các nước đang phát triển có thể được giảm giá chỉ còn khoảng năm phần trăm giá trước đây.
    Bệnh nhân cần chú ý những điều gì để điều trị có hiệu quả?
    Nếu có các triệu chứng như kể trên, nên đi khám càng sớm càng tốt, vì bệnh sẽ dễ chữa hơn. Nếu để trễ, phổi đã bị tổn thương trầm trọng, sẽ khó phục hồi hoàn toàn, và ta cũng sẽ lây căn bệnh nguy hiểm này cho người thân của ta cũng như nhiều khác.
    Vi trùng kháng thuốc là điều rất nguy hiểm cho ta, người thân của ta, cũng như xã hội. Do đó, khi đã được điều trị, cần phải chặt chẽ phối hợp, nghe theo lời dặn của bác sĩ. Vì vi trùng kháng thuốc không chỉ làm bệnh của chính ta khó trị hơn, thời gian điều trị cần kéo dài hơn, tốn kém hơn, mà còn rất tai hại cho xã hội, vì bất cứ ai bị lây chủng vi trùng này cũng đều gặp phải các khó khăn kể trên.
    Việc phối hợp chặt chẽ với bác sĩ, cũng sẽ giúp cho các tác dụng phụ của thuốc được kiểm soát chặt chẽ hơn, không gây hại trên cơ thể của ta.
    Làm sao để phòng ngừa lao phổi và lao nói chung?
    Ở những nơi mà bệnh lao còn phổ biến như ở các nước đang phát triển, như Việt Nam, thuốc chủng BCG thường được chủng cho trẻ em ngay lúc sanh. Tuy nhiên hiệu quả của thuốc này không cao lắm.
    Ở các nước đã phát triển như Hoa Kỳ, các nước Tây Âu, nếu xét nghiệm lao dương tính, thường bệnh nhân sẽ được cho uống thuốc ngừa trong ít nhất là chín tháng. Các thuốc này sẽ giúp tiêu diệt các vi trùng “nằm vùng” trong cơ thể, và làm giảm khả năng tái hoạt của vi trùng lao.
    Chương trình này chỉ nhằm cung cấp kiến thức tổng quát về sức khoẻ. Cho các vấn đề cụ thể, chi tiết của từng bệnh nhân, xin liên lạc trực tiếp với bác sĩ cuả quí vị để được thăm khám trực tiếp.

  6. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    oneone (07-01-2014)

  7. #4
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Bệnh học lao phổi

    Lao phổi hay bắt đầu từ vùng đỉnh phổi và vùng d−ới đòn (phân thuỳ đỉnh và phân thuỳ sau của thuỳ trên phổi). Cơ chế được giải thích là do cấu trúc về giải phẫu hệ mạch máu ở đây.Vị trí của lao phổi trong bệnh học lao

    Lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất trong bệnh học lao, chiếm khoảng 80% tổng số bệnh lao. ở nước ta hàng năm theo ước tính có 85 trường hợp lao phổi có vi khuẩn trong đờm bằng phương pháp nhuộm soi kính trực tiếp trên 100.000 dân. Lao phổi là nguồn lây vi khuẩn cho những người lành nhiều nhất, đặc biệt là người bệnh có vi khuẩn bằng xét nghiệm đờm soi kính trực tiếp (AFB(+)). Đây là nguồn lây chủ yếu làm cho bệnh lao tồn tại ở mọi quốc gia qua nhiều thế kỷ. Vì vậy phát hiện và điều trị khỏi cho những bệnh nhân này là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất và là nhiệm vụ quan trọng của chương trình chống lao ở nước ta, cũng như nhiều nước trên thế giới.
    Bệnh cảnh lâm sàng của lao phổi rất đa dạng và thường diễn biến mạn tính. Nếu được phát hiện sớm thì lao phổi điều trị sẽ có kết quả tốt, nhưng nếu không được phát hiện kịp thời, bệnh sẽ có nhiều biến chứng, kết quả điều trị hạn chế, người bệnh có thể trở thành nguồn lây với chủng vi khuẩn lao kháng thuốc.
    Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh
    Vi khuẩn gây bệnh
    Chủ yếu là vi khuẩn lao người (M. tuberculosis hominis); có thể do vi khuẩn lao bò nhưng ít gặp. Nguồn gốc của vi khuẩn lao do bội nhiễm từ môi trường bên ngoài hoặc từ tổn thương cũ, vi khuẩn tái diễn trở lại. Những người có HIV/AIDS khi bị lao phổi, nguyên nhân gây bệnh còn có thể do các trực khuẩn kháng cồn kháng toan không điển hình (M. atipiques) hay gặp làMycobaterium avium intracellulare (MAI), M. kansasii, M. malmoense, M. xenopi...
    Vị trí tổn thương
    Lao phổi hay bắt đầu từ vùng đỉnh phổi và vùng d−ới đòn (phân thuỳ đỉnh và phân thuỳ sau của thuỳ trên phổi). Cơ chế được giải thích là do cấu trúc về giải phẫu hệ mạch máu ở đây, làm cho dòng máu chảy chậm so với vùng khác, vì vậy vi khuẩn dễ dừng lại gây bệnh.
    Tuổi mắc bệnh
    Lao phổi thường gặp ở người lớn; ở trẻ em lao phổi hay gặp ở trẻ 10 – 14 tuổi. Đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về nội tiết, bệnh lao phổi có những đặc điểm riêng. Do sức đề kháng giảm nên tỷ lệ lao phổi ở người già cũng gặp nhiều hơn.
    Yếu tố thuận lợi
    Nguồn lây: Những người tiếp xúc với nguồn lây, đặc biệt là tiếp xúc lâu dài và trực tiếp thì càng dễ bị bệnh. Người bệnh khi ho (hoặc hắt hơi) bắn ra các hạt rất nhỏ, trong các hạt nhỏ này có vi khuẩn lao (mắt thường không nhìn thấy), lơ lửng trong không khí, phân tán xung quanh bệnh nhân, người lành hít phải các hạt này khi thở có thể bị lây bệnh.
    Một số bệnh, một số trạng thái đặc biệt cũng là điều kiện thuận lợi dễ mắc lao phổi: Bệnh bụi phổi, bệnh phổi do virus, bệnh đái tháo đường, loét dạ dày – tá tràng; có HIV/AIDS, suy dinh d−ỡng, phụ nữ có thai, nghiện r−ợu, người già…
    Mức sống thấp, chiến tranh, căng thẳng tinh thần… đều là yếu tố thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển của bệnh lao nói chung và lao phổi nói riêng.
    Yếu tố gen: Những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vai trò của hệ HLA, Haptoglobulin… trong việc cảm thụ với bệnh lao.
    Giải phẫu bệnh lý
    Đại thể
    Tổn thương ở phổi rất đa dạng, tuỳ thuộc vào từng người bệnh. Về đại thể, tổn thương lao hay gặp ở phổi là:
    Hang: Có thể một hoặc nhiều hang, kích thước hay gặp từ 2cm đến 5cm. Trong thể viêm phổi bã đậu thì có thể có những hang khổng lồ (đường kính hơn 7cm), có những trường hợp hang chiếm cả một thuỳ phổi. Những hang có phế quản thông thì lòng hang sạch; ng−ợc lại, hang chứa nhiều chất bã đậu khi chưa thông với phế quản. Hang cũ khi thành hang có tổ chức xơ cứng.
    Củ lao: Những củ lao mới còn được gọi là củ bã đậu, kích thước trung bình các củ lao là 0,5 – 3cm. Khi cắt ngang củ lao sẽ thấy chất nửa lỏng, nửa đặc, màu trắng, đó là chất bã đậu, đây là chất hoại tử đặc hiệu của tổn thương lao. Khi củ lao hoại tử bã đậu có nhiều lớp và được một vỏ xơ bao bọc, tách biệt thì được gọi là u lao. Trong quá trình diễn biến của bệnh có những củ lao đã vôi hoá. Các củ lao làm cho tổ chức phổi giảm hoặc mất tính đàn hồi.
    Tổn thương có thể khu trú tại một thuỳ của phổi (hay gặp là thuỳ trên phổi phải) hoặc rải rác khắp hai phổi trong phế quản - phế viêm do lao.
    Kèm theo: Các tổn thương kèm theo có thể gặp là giãn phế quản, giãn phế nang…
    Vi thể
    Viêm lao xuất tiết: Đây là biểu hiện sớm khi vi khuẩn xâm nhập vào phổi. Phản ứng viêm thường không đặc hiệu. Đầu tiên là phản ứng của bạch cầu đa nhân trung tính, sau đó là các tế bào đơn nhân với nhiều đại thực bào. Các phế nang chứa nhiều dịch rỉ viêm, vách phế nang phù nề, các mao mạch bị giãn. Sau đó các tế bào đơn nhân biến đổi thành những tế bào có nhân to không đồng đều.
    Tổn thương đặc hiệu: Sau giai đoạn viêm xuất tiết là giai đoạn hình thành tổ chức hạt tạo nên một hình ảnh tổn thương đặc hiệu của bệnh lao đó là nang lao. ở trung tâm là chất hoạt tử bã đậu, tế bào khổng lồ rồi các tế bào bán liên, tiếp đến là vành đai các tế bào lympho và tổ chức xơ bao bọc ngoài cùng. Trong nang lao tế bào khổng lồ (Langhans) có thể ít, nhưng bao giờ cũng có tế bào bán liên.
    Tổn thương không đặc hiệu: Tổn thương mao mạch, xẹp phế nang, giãn phế nang...
    Triệu chứng lâm sàng
    Thời kỳ bắt đầu
    Đa số trường hợp bệnh bắt đầu một cách từ từ với các dấu hiệu sau đây:
    Triệu chứng toàn thân
    Bệnh nhân mệt mỏi, giảm khả năng làm việc, ăn kém, gầy sút, sốt nhẹ về chiều tối (3705 – 380C) kèm theo ra mồ hôi về ban đêm, da xanh... Các triệu chứng trên đây được nhiều tài liệu gọi là hội chứng nhiễm trùng, nhiễm độc lao. Triệu chứng sốt về chiều trong bệnh lao ngày nay được cho là do tác động của một số Interleukin (Interleukin 1, Interleukin 4).
    Triệu chứng cơ năng
    Triệu chứng hay gặp nhất là ho khạc đờm: Đờm nhầy, màu vàng nhạt, có thể màu xanh hoặc mủ đặc. Đây là triệu chứng quan trọng, người thầy thuốc cần cho làm xét nghiệm sớm để chẩn đoán.
    Ho ra máu: Khoảng 10% bệnh nhân bị bệnh, bắt đầu biểu hiện bằng triệu chứng ho ra máu, thường ho ra máu ít, có đuôi khái huyết.
    Đau ngực: Đây là triệu chứng không gặp thường xuyên, thường đau khu trú ở một vị trí cố định.
    Khó thở: Chỉ gặp khi tổn thương rộng ở phổi, hoặc bệnh phát hiện muộn.
    Triệu chứng thực thể
    Ở giai đoạn đầu, các dấu hiệu thực thể nghèo nàn, khi khám (nhìn, sờ, gõ, nghe) thường không phát hiện được triệu chứng gì rõ rệt, nhất là đối với những tổn thương nhỏ. Một số trường hợp có thể nghe thấy rì rào phế nang giảm ở vùng đỉnh phổi hoặc vùng liên bả - cột sống. Nghe thấy ran nổ cố định ở một vị trí (thường vùng cao của phổi) là một dấu hiệu có giá trị.
    Khởi bệnh cấp tính (10 – 20%): Bệnh bắt đầu với sốt cao, ho, đau ngực nhiều, kèm theo khó thở, cách bắt đầu này thường gặp trong thể viêm phổi bã đậu hoặc phế quản - phế viêm do lao.
    Thời kỳ toàn phát
    Các triệu chứng lâm sàng ở thời kỳ bắt đầu nặng dần lên và diễn biến từng đợt, có thời gian giảm sau đó lại trở lại với mức độ nặng hơn. Nếu không được phát hiện và điều trị thì bệnh ngày càng nặng.
    Triệu chứng toàn thân
    Người bệnh suy kiệt, da xanh, niêm mạc nhợt, sốt dai dẳng về chiều và tối.
    Triệu chứng cơ năng
    Ho ngày càng tăng, có thể ho ra máu.
    Đau ngực liên tục.
    Khó thở tăng cả khi nghỉ ngơi.
    Triệu chứng thực thể
    Khi bệnh nhân đến muộn, có thể nhìn thấy lồng ngực bị lép (bên tổn thương) do các khoang liên sườn hẹp lại.
    Vùng đục của tim bị lệch sang bên tổn thương, nghe có nhiều ran nổ, ran ẩm… có thể có tiếng thổi hang.
    Cận lâm sàng
    Xét nghiệm đờm tìm vi khuẩn lao
    Đây là xét nghiệm quan trọng nhất để chẩn đoán bệnh lao phổi. Kỹ thuật đơn giản và cho kết quả nhanh là nhuộm đờm soi kính trực tiếp. ở nước ta Chương trình chống lao quốc gia quy định lấy 3 mẫu đờm để xét nghiệm như sau: Mẫu thứ nhất lấy đờm khi người bệnh đến khám; mẫu thứ hai lấy đờm vào buổi sáng sớm hôm sau khi bệnh nhân mới ngủ dậy; mẫu thứ ba lấy đờm tại chỗ khi người bệnh mang mẫu đờm thứ hai đến khám. Điều quan trọng là phải h−ớng dẫn người bệnh biết cách khạc đờm để lấy đúng đờm làm xét nghiệm. Ngoài soi kính, các kỹ thuật nuôi cấy tìm vi khuẩn ngày càng được hoàn thiện (độ chính xác cao, cho kết quả nhanh) như kỹ thuật BACTEC, MGIT.
    Đặc biệt là kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) cũng được áp dụng để nâng cao hiệu quả chẩn đoán bệnh lao phổi. Tuy nhiên các kỹ thuật này đòi hỏi trang thiết bị cho nên chưa được áp dụng rộng rãi ở nước ta.
    Chẩn đoán hình ảnh
    Chụp phổi phẳng, nghiêng (X quang phổi chuẩn hay X quang quy ước)
    Những tổn thương cơ bản của lao phổi:
    Thâm nhiễm: Thường là một đám mờ nhạt ở d−ới xương đòn, kích thước khác nhau, giới hạn không rõ. Đôi khi tổn thương tập trung thành đám mờ tròn (đường kính trung bình 1 –2 cm) được gọi là thâm nhiễm Assmann; hoặc trên cơ sở một dải mờ nhạt có một số nốt nhỏ (còn gọi là thâm nhiễm hình dải ngân hà hoặc tinh vân). Các thuật ngữ này, ngày càng ít được sử dụng vì ít ý nghĩa thực tiễn.
    Một số tác giả (Liên Xô cũ) xếp cả hình ảnh X quang của viêm phổi bã đậu và phế quản - phế viêm do lao vào thể lao thâm nhiễm. Nhưng do những đặc điểm lâm sàng, tổn thương trên X quang và diễn biến của chúng cho nên xếp riêng các thể lao phổi này là hợp lý hơn.
    Nốt: Kích thước nốt có thể khác nhau, trung bình 5 – 10mm, các nốt có thể rải rác khắp hai phổi hoặc tập trung nhiều hơn ở một vùng của phổi.
    Hang: Trên phim là một hình sáng, bờ khép kín. Kích thước hang có thể to nhỏ khác nhau. Khi hang có phế quản thông, trên phim có thể thấy hình của phế quản là hai đường mờ song song. Những hang mới có thành hang dầy, còn hang cũ thành hang mỏng và độ cản quang đậm.
    Các tổn thương trên đây thường xen kẽ nhau: xung quanh hang có thể có thâm nhiễm và nốt.
    Ngoài 3 loại tổn thương cơ bản trên đây có thể những tổn thương xơ với hình dạng phức tạp, có khi chỉ là một vài dải xơ, có khi là những đám xơ rộng chiếm cả một thuỳ hoặc một bên phổi làm ảnh hưởng tới chức năng hô hấp .
    Phân chia mức độ tổn thương ở phổi như sau (ATS, 1980)
    Tổn thương nhỏ: Tổn thương không có hang ở một bên phổi hoặc hai bên phổi, nhưng bề rộng của tổn thương khi gộp lại không vượt quá diện tích phổi nằm trên một đường ngang qua khớp ức sườn 2.
    Tổn thương vừa: Gồm các tổn thương rải rác, diện tích cộng lại không vượt quá một phổi. Nếu tổn thương liên kết với nhau thì cũng không quá 1/3 một phổi. Khi có hang thì đường kính các hang cộng lại không quá 4cm.
    Tổn thương rộng: Khi tổn thương v−ợt quá giới hạn trên đây.
    Cách chia mức độ tổn thương trên đây cũng chưa thật chính xác, nhưng nó cho biết rõ hơn mức độ của tổn thương để có thể tiên lượng khả năng khỏi bệnh và những di chứng có thể gặp sau điều trị ở người bệnh bị lao phổi.
    Chụp phim phổi nghiêng sẽ giúp nhận định rõ ràng hơn vị trí và mức độ tổn thương, đặc biệt là vị trí tổn thương ở các phân thuỳ phổi.
    Các kỹ thuật khác
    Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner): Khả năng phát hiện tổn thương sẽ chính xác hơn, nhất là xác định vị trí tổn thương. Tuy nhiên, do phải đòi hỏi trang thiết bị và giá thành đắt mà hiện nay ở nước ta chỉ sử dụng trong ghiên cứu hoặc khi cần chẩn đoán phân biệt lao phổi với các bệnh phổi khác.
    Siêu âm: Chỉ sử dụng để thăm dò tình trạng động mạch phổi hoặc tim khi nghi có biến chứng tâm phế mạn do lao phổi hoặc có kèm theo lao màng phổi.
    Xét nghiệm máu
    Trong lao phổi, số lượng hồng cầu thường không giảm, trừ khi bệnh diễn biến lâu, cơ thể suy kiệt. Số lượng bạch cầu thường không tăng, tỷ lệ tế bào lympho có thể tăng, tốc độ lắng máu cao. Người ta còn xét nghiệm kháng thể kháng lao ở trong máu để góp phần chẩn đoán bệnh lao phổi khi không tìm thấy vi khuẩn lao ở trong đờm (phản ứng miễn dịch gắn men ELISA, Hexagon...).
    Phản ứng Mantoux
    Phản ứng Mantoux thường dương tính ở mức độ trung bình trong bệnh lao phổi, tuỳ từng bệnh nhân. Những trường hợp bệnh diễn biến kéo dài, cơ thể suy kiệt phản ứng có thể âm tính. Phản ứng Mantoux không có vai trò quan trọng trong chẩn đoán lao phổi như bệnh lao sơ nhiễm ở trẻ em, nhưng trong một số trường hợp nó góp phần phân biệt giữa lao phổi với ung th− phổi, giữa lao và bệnh sarcoid.
    Chức năng hô hấp
    Khi tổn thương lao diện tích nhỏ thì ít ảnh hưởng đến chức năng thông khí phổi, khi diện tích tổn thương rộng thì có thể gây rối loạn thông khí hạn chế (FVC giảm). Nếu có tổn thương phế quản phối hợp thì có thể gây rối loạn thông khí hỗn hợp (FVC↓, FEV1↓, Tiffeneau↓). Các thành phần khí trong máu (Pa02, Sa02, PaC02) có thể bị thay đổi khi tổn thương phổi rộng và bệnh kéo dài.
    Điện tâm đồ
    Trong đa số trường hợp tổn thương lao phổi mới không ảnh hưởng đến điện tim. Nhưng ở giai đoạn muộn (khi có biến chứng tâm phế mạn) thì có sóng P phế, tăng gánh thất phải, dầy thất phải...
    Các thể lâm sàng
    Phân loại theo Hiệp hội chống lao quốc tế và Chương trình chống lao quốc gia.
    Dựa vào xét nghiệm vi khuẩn lao
    Lao phổi xét nghiệm đờm trực tiếp có vi khuẩn (AFB +).
    Lao phổi xét nghiệm đờm trực tiếp không có vi khuẩn (AFB -):
    Kết quả xét nghiệm AFB âm tính ít nhất 6 mẫu đờm khác nhau qua 2 lần khám cách nhau 2 tuần đến 1 tháng và có tổn thương nghi lao trên X quang.
    Kết quả xét nghiệm đờm AFB trực tiếp âm tính, nhưng nuôi cấy lại có vi khuẩn mọc.
    Dựa vào tiền sử dùng thuốc
    Bệnh nhân lao phổi mới: Người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc hoặc mới chỉ dùng thuốc lao d−ới 1 tháng.
    Bệnh nhân lao phổi điều trị thất bại: Bệnh nhân còn vi khuẩn lao trong đờm từ tháng điều trị thứ 5 trở đi.
    Bệnh nhân điều trị lại sau thời gian bỏ trị: Người bệnh không dùng thuốc trên 2 tháng trong quá trình điều trị, sau đó quay lại điều trị với AFB (+) trong đờm.
    Bệnh nhân tái phát: Bệnh nhân đã điều trị lao được thầy thuốc xác nhận là khỏi bệnh, hay hoàn thành điều trị, nay mắc bệnh trở lại AFB(+) trong đờm.
    Bệnh lao phổi mạn tính: Bệnh nhân vẫn còn vi khuẩn lao sau khi đã dùng công thức tái trị có giám sát chặt chẽ việc dùng thuốc.
    Theo tuổi
    Lao phổi ở trẻ em: Tổn thương ở phổi thường xuất hiện sau tổn thương tiên phát từ 6 – 14 năm, do đó lao phổi trẻ em hay gặp từ 10 – 14 tuổi. Do có những thay đổi về nội tiết ở lứa tuổi này mà trẻ em hay bị các thể lao phổi nặng như phế quản - phế viêm do lao hoặc viêm phổi bã đậu. Điều đáng l−u ý là ở độ tuổi này trẻ đang học tập và chưa có những hiểu biết đầy đủ về bệnh tật, cho nên không ít trường hợp bệnh không được phát hiện sớm, do đó kết quả điều trị bị hạn chế.
    Lao phổi ở người già: Do cơ thể bị giảm miễn dịch nên người già dễ bị lao phổi. Nếu ở người trẻ vi khuẩn xâm nhập từ bên ngoài vào gây bệnh là chính, thì ở người già nguồn gốc vi khuẩn chủ yếu là từ các tổn thương cũ trong cơ thể tái triển trở lại. Việc phát hiện bệnh lao phổi ở người già có thể bị chậm trễ vì nhiều người già bị các bệnh hô hấp mạn tính, triệu chứng của các bệnh này cũng giống triệu chứng của bệnh lao phổi (ho, đau ngực...), vì vậy khi bị lao lại cho là bị bệnh khác. Mặt khác, không ít trường hợp do điều kiện cuộc sống quá khó khăn lúc tuổi già nên không đi khám bệnh. ở nước ta người già thường sống chung với con cháu, nếu không phát hiện và điều trị cho bệnh nhân lao ở lứa tuổi này thì sẽ là nguồn lây cho người khác trong gia đình. Ở người già, chức năng của các cơ quan bị suy giảm (trong đó có chức năng của gan – thận) và thường có những bệnh khác phối hợp, do đó khả năng dung nạp thuốc lao kém, vì vậy kết quả điều trị lao phổi cũng bị hạn chế.
    Theo đặc điểm tổn thương và diễn biến của bệnh
    Phế quản - phế viêm do lao: Bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, tuổi dậy thì và người già. Diễn biến của bệnh cấp tính: sốt cao, gầy sút nhanh, khó thở, ở trẻ nhỏ có thể tím tái. Hình ảnh X quang là những nốt mờ, to nhỏ, không đều ở cả hai bên phế trường, đậm độ tập trung nhiều ở vùng cạnh tim.
    Lao kê: Đây là thể lao cấp với biểu hiện lâm sàng rất rõ: sốt cao li bì kéo dài, khó thở, có thể tím tái. Bệnh cảnh của lao kê có đặc điểm là sự mâu thuẫn giữa triệu chứng toàn thân, cơ năng và các dấu hiệu thực thể (người bệnh sốt cao, khó thở, tím tái... nhưng khám phổi chỉ nghe tiếng thở thô). Hình ảnh X quang với những nốt nhỏ đồng đều rải rác khắp hai phế trường (tổn thương 3 đều: vị trí, kích thước và độ cản quang). Xét nghiệm máu có bạch cầu tăng và tăng tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính.
    Viêm phổi bã đậu: Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng gặp nhiều ở tuổi dậy thì. Người bệnh sốt cao (39 – 400C), giao động, có khó thở, tím tái, mạch nhanh. Bệnh nhân có thể thiếu máu nặng, phù thiểu d−ỡng, khám phổi có hội chứng đông đặc, nhiều ran ẩm, ran nổ, có thể có cả ran ngáy (do co thắt phế quản hoặc chất bã đậu gây bít tắc một phần phế quản); có thể có hội chứng hang.
    Xét nghiệm máu số lượng hồng cầu giảm, bạch cầu tăng, trong đó tăng tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính, tỷ lệ tế bào lympho lại giảm (80 – 90%), tốc độ máu lắng tăng cao.
    X quang: hình mờ chiếm một số phân thuỳ, một thuỳ hoặc một số thuỳ phổi, giai đoạn đầu mờ thuần nhất, sau đó nhanh chóng hoại tử tạo thành nhiều hang, có thể có những hang khổng lồ (đường kính lớn hơn 7cm), kèm theo nhiều nốt quanh hang.
    Đây là một thể lao nặng, cần phải điều trị tích cực, các triệu chứng lâm sàng giảm chậm (nhất là triệu chứng sốt), cần phải kéo dài thời gian điều trị tấn công cho thể bệnh này.
    U lao (Tuberculome): U lao là một thể lâm sàng đặc biệt của lao phổi,khi tổ chức bã đậu được các lớp xơ xen kẽ bao bọc. Người ta chia u lao ra làm 3 loại: loại nhỏ (đường kính d−ới 2cm), loại trung bình (2 – 4cm), loại lớn (hơn 4cm), cũng ít gặp có nhiều u lao ở phổi.
    Đặc điểm của u lao là ít có triệu chứng lâm sàng, nhiều khi phát hiện do tình cờ chụp phim phổi. U lao có thể ổn định trong nhiều năm, nhưng có thể to ra hoặc phá huỷ tạo thành hang. Có một số trường hợp u lao có đáp ứng với thuốc lao và nhỏ lại. Tại khoa Ngoại, Bệnh viện Lao – Bệnh phổi trung ương năm 2004, u lao được phẫu thuật chiếm 36,6% trong các tổn thương lao được mổ.
    Tuy nhiên cần phải theo dõi chặt chẽ, vì phân biệt u lao với u phổi do nguyên nhân khác (nhất là ung th− phổi) trong nhiều trường hợp là không dễ dàng.
    Phân loại chủ yếu dựa vào đặc điểm tổn thương trên X quang
    Phân loại của Lopo de Carvalho chia tổn thương lao phổi thành 4 thể: − Lao thâm nhiễm không có hang (1a), có hang (1b).
    Lao nốt không có hang (2a), có hang (2b).
    Lao kê (3a).
    Lao xơ không có hang (4a), có hang (4b).
    Phân loại của Liên Xô (cũ)
    Phân loại này khá phức tạp đối với lao phổi bao gồm các thể sau đây:
    Phức hợp sơ nhiễm do lao.
    Lao các hạch bạch huyết trong lồng ngực.
    Lao phổi tản mạn.
    Lao nốt (còn có thể đặc biệt gọi là lao huyệt).
    Lao thâm nhiễm.
    U lao.
    Lao hang phổi.
    Lao xơ hang phổi.
    Lao xơ phổi.
    Mỗi thể lao trên đây chia ra nhiều giai đoạn: Thâm nhiễm, phá huỷ, lan tràn, hấp thu, xơ hoá, vôi hoá...
    Phân loại bệnh lao phổi theo khuyến cáo Hội thảo của các bộ môn Lao 8 trường Đại học Y toàn quốc (tháng 3/2007)
    Phân loại này kết hợp các yếu tố
    Tiền sử dùng thuốc: Lao phổi mới, lao phổi tái phát, lao phổi thất bại, lao phổi mạn tính...
    Tổn thương trên phim chụp phổi
    Thể bệnh: thâm nhiễm, nốt (kê, phế quản phế viêm lao), xơ, hang...
    Mức độ tổn thương: theo ATS (1980) có cải tiến gồm 4 mức độ: 0, I, II, III.
    Vi khuẩn lao (xét nghiệm đờm bằng kỹ thuật soi kính trực tiếp): AFB (+), AFB (-).
    Trình tự của phân loại như sau

    Tiền sử dùng thuốc/ Tổn thương X quang phổi (thể bệnh, mức độ)/ Vi khuẩn lao (xét nghiệm trực tiếp).
    Ví dụ: + Trước điều trị: Lao phổi mới, thể thâm nhiễm (II)*, AFB (+). + Khi kết thúc điều trị: Lao phổi mới, thể xơ (I)*, AFB (−).
    ((I)*, (II)* chỉ mức độ tổn thương phổi).
    Cách phân loại này mô tả tương đối đầy đủ bệnh lý của người bệnh, đánh giá được kết quả điều trị; có thể áp dụng rộng rãi từ tuyến quận (huyện) đến các bệnh viện chuyên khoa ở tuyến trung ương. Phân loại này không phức tạp, có thể sử dụng trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, phù hợp với tổ chức các khoa phòng của chuyên khoa lao – bệnh phổi hiện nay ở nước ta.
    Chẩn đoán
    Chẩn đoán xác định
    Khi soi kính trực tiếp có vi khuẩn ở trong đờm (thể điển hình)
    Chẩn đoán xác định trong các tình huống cụ thể sau đây:
    Có tối thiểu 2 tiêu bản AFB (+) từ 2 mẫu đờm khác nhau.
    Một tiêu bản đờm AFB (+) và có hình ảnh tổn thương nghi lao trên X quang phổi.
    Một tiêu bản đờm AFB (+) và nuôi cấy có vi khuẩn lao.
    Khi soi kính trực tiếp không có vi khuẩn ở trong đờm
    Khi có điều kiện cần làm thêm nuôi cấy (môi trường Loeweinstein – Jensen) hoặc các kỹ thuật chẩn đoán khi có ít vi khuẩn lao trong bệnh phẩm (PCR, ELISA, BACTEC...).
    Dựa vào lâm sàng, đặc điểm của tổn thương trên X quang phổi, các xét nghiệm và không đáp ứng với điều trị kháng sinh, đáp ứng với điều trị thuốc lao để chẩn đoán cho từng trường hợp.
    Chẩn đoán phân biệt
    Khi không tìm thấy vi khuẩn lao ở trong đờm, thì cần phân biệt lao phổi với một số bệnh sau đây.
    Ung thư phế quản nguyên phát (gọi tắt là ung thư phổi): Ung thư phổi hay gặp ở nam giới, người hút thuốc lá, hơn 40 tuổi. Triệu chứng lâm sàng hay gặp là đau ngực, ho ra máu lẫn đờm đỏ thẫm; có thể có các triệu chứng, hội chứng cận ung thư... Hình ảnh trên phim X quang phổi là hình mờ đồng đều, giới hạn rõ. Trên phim chụp cắt lớp vi tính xác định chính xác được vị trí và kích thước khối u. Các kỹ thuật xâm nhập (soi phế quản sinh thiết, sinh thiết phổi qua thành ngực...) sẽ xác định chẩn đoán bằng mô bệnh học.
    Viêm phổi cấp do các vi khuẩn khác: Bệnh thường cấp tính: sốt cao 39 – 400C, ho đờm nhiều, khám có hội chứng đông đặc (trong viêm phổi thuỳ cấp tính) hoặc có nhiều ran ẩm, ran nổ (trong phế quản - phế viêm). Tổn thương trên X quang nếu là viêm phổi thuỳ cấp tính sẽ có một đám mờ hình tam giác đỉnh tam giác ở phía trung thất. Nếu là phế quản - phế viêm sẽ thấy nhiều nốt mờ không đồng đều rải rác ở hai phổi, tập trung nhiều ở vùng cạnh tim. Xét nghiệm máu: bạch cầu tăng, trong đó tăng tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính.
    Viêm phổi do virus: Bệnh thường bắt đầu bằng các dấu hiệu của viêm đường hô hấp trên (mũi, họng, thanh quản...), sau đó sốt (380C – 390C), ho khan, đờm nhầy có thể lẫn các tia máu. Khám phổi có ran ẩm, có thể kèm theo ran ngáy, ran rít. X quang phổi thấy các đám mờ nhạt xuất phát từ rốn phổi ra ngoài, tổn thương luôn thay đổi.
    Chẩn đoán xác định dựa vào kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang phát hiện kháng thể kháng virus.
    Giãn phế quản: Giãn phế quản là khi đường kính của phế quản (thường là phế quản trung bình) bị giãn không hồi phục kèm theo phá huỷ thành phế quản (cơ, sợi đàn hồi...). Triệu chứng lâm sàng của giãn phế quản thường có hai bệnh cảnh.
    Giãn phế quản thể ướt: Người bệnh ho nhiều đờm, nếu để đờm vào cốc sẽ tạo thành ba lớp (mủ đặc ở d−ới, lớp giữa là chất nhầy, trên cùng là lớp dịch trong).
    Giãn phế quản thể khô: Bệnh nhân ho ra máu, ho ra máu có chu kỳ, lượng máu ho ra nhiều, đôi khi đe doạ tính mạng người bệnh. Chẩn đoán xác định bằng chụp phế quản có thuốc cản quang. Tuy nhiên hiện nay người ta không sử dụng kỹ thuật này mà thường chụp cắt lớp vi tính để xác định chẩn đoán.
    Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease = COPD): Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh diễn biến trong nhiều năm mức độ ngày càng nặng lên với l−u lượng thở ra giảm và không hồi phục. Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn và giãn phế nang là hai yếu tố quan trọng của COPD. Triệu chứng lâm sàng của bệnh thường ho khạc đờm nhiều năm, xen kẽ với những đợt bùng phát; sốt, đờm lẫn mủ... Khó thở ngày càng tăng, cuối cùng là suy hô hấp. Khám phổi có ran ẩm, ran ngáy, ran rít khi có đợt bùng phát. Xét nghiệm đờm không có vi khuẩn lao.
    Bệnh ký sinh trùng phổi
    Hội chứng Loeffer: Do ấu trùng giun đũa gây nên tại phổi, được Loeffler mô tả đầu tiên (1932); Cũng có thể do giun l−ơn, giun móc... Tuy nhiên nguyên nhân có thể còn do dị ứng, hoặc chưa rõ căn nguyên. Người bệnh thường ho khan, có thể có đờm dính máu, có khi có khó thở. Xét nghiệm máu tăng bạch cầu ái toan; Khi chụp phổi thấy có đám mờ nhạt thay đổi (còn gọi là thâm nhiễm mau bay vì tổn thương mất đi nhanh).
    Sán lá phổi: Bệnh hay xảy ra ở những người trong tiền sử có uống nước cua sống hoặc ăn cua sống. Người bệnh ho từng cơn có thể ho ra máu, đau ngực, sốt. Hình ảnh X quang phổi là đám mờ giới hạn không rõ; Xét nghiệm máu bạch cầu ái toan tăng. Chẩn đoán xác định khi tìm thấy sán hoặc trứng sán ở trong đờm; có thể sử dụng kỹ thuật miễn dịch để chẩn đoán.
    Bệnh amib phổi: Thường là thứ phát sau bệnh amip ở gan. Do biến chứng của áp xe gan do amip vỡ lên màng phổi và phổi. Bệnh nhân ho ra đờm màu sôcôla (chocolat), kèm theo tràn dịch màng phổi phải (dịch màu sôcôla), chẩn đoán xác định khi soi thấy amip ở đờm và dịch màng phổi.
    Nấm phổi: Có hai loại nấm thường gây bệnh ở phổi.
    Nấm Aspergillus: Loại nấm này hay ký sinh ở trong hang còn lại (sau khi chữa lao hoặc áp xe phổi khỏi), triệu chứng hay gặp là ho ra máu, có khi ho ra máu nhiều đe doạ tính mạng người bệnh.
    Nấm Candida albicans: Có thể gây bệnh phổi cấp tính với biểu hiện hình ảnh Xquang là nhiều nốt mờ rải rác cả hai phế trường phổi, về lâm sàng người bệnh có khó thở, đau ngực nhiều.
    Chẩn đoán xác định các loại nấm phổi thường dựa vào kỹ thuật miễn dịch điện di tìm kháng thể kháng nấm.
    Bệnh bụi phổi: Chẩn đoán phân biệt chỉ đặt ra khi tổn thương hình giả u của bệnh bụi phổi. Hình mờ này có thể hoại tử (vô khuẩn) tạo thành hang với bờ nham nhở. Người bệnh thường có tiền sử nghề nghiệp tiếp xúc với bụi. Xét nghiệm đờm không có vi khuẩn lao.
    Tiến triển và biến chứng
    Tiến triển tốt
    Khi bệnh nhân được phát hiện sớm và chữa kịp thời, các triệu chứng lâm sàng sẽ giảm và hết (trung bình 1- 2 tuần). Vi khuẩn ở trong đờm sẽ âm hoá sau 1 – 2 tháng điều trị. Tổn thương trên X quang thường thay đổi chậm hơn. Tổn thương có thể xoá hết hoặc để lại một số nốt vôi hoặc dải xơ.
    Tiến triển không tốt
    Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời thì đa số trường hợp bệnh diễn biến từng đợt, các triệu chứng ngày càng nặng lên và có thể có các biến chứng, các biến chứng hay gặp của lao phổi được nêu d−ới đây.
    Ho ra máu: Là biến chứng thường gặp trong lâm sàng. Số lượng máu có thể nhiều hoặc ít, trường hợp ho ra máu nhiều người bệnh có thể tử vong. Đây là một cấp cứu phải xử trí kịp thời.
    Tràn khí màng phổi: Do vỡ hang lao hoặc vỡ phế nang bị giãn (trong lao phổi có thể kèm giãn phế nang vì nhu mô phổi lành thở bù cho phần phổi bị tổn thương). Bệnh nhân đau ngực đột ngột kèm theo khó thở. Đây cũng là một cấp cứu, cần phải chẩn đoán và xử trí kịp thời.
    Bội nhiễm: Bệnh nhân có triệu chứng cấp tính: Sốt cao, ho nhiều đờm...
    Xét nghiệm máu: bạch cầu tăng, trong đó tăng tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính. Cần phải điều trị phối hợp thêm kháng sinh.
    Lao nhiều bộ phận trong cơ thể: Từ phổi, vi khuẩn lao theo đường máu và bạch huyết, gây lao ở nhiều bộ phận như lao hạch, lao các màng, lao xương khớp... Trong đó lao màng não là thể lao nặng nhất, bệnh nhân có thể tử vong.
    Tâm phế mạn tính: Do giảm diện tích phổi tham gia hô hấp, bệnh nhân bị suy hô hấp kéo dài, dẫn đến tâm phế mạn, cuối cùng là tử vong trong bệnh cảnh suy tim, suy hô hấp.
    Điều trị
    Do có nhiều thuốc chữa lao ra đời, mà việc điều trị bệnh lao nói chung và lao phổi nói riêng đã đạt được những kết quả tốt. Tuy nhiên kết quả điều trị phụ thuộc nhiều vào thời gian phát bệnh sớm hay muộn. Điều trị lao phổi chủ yếu là điều trị nội khoa.
    Các phác đồ
    Hiện nay ở nước ta có 3 phác đồ được sử dụng để điều trị lao phổi.
    Lao phổi mới: 2 SRHZ/ 6 HE.
    Lao phổi thất bại, tái phát: 2 SRHZE/ 1RHZE/ 5 R3H3E3. − Lao trẻ em, phụ nữ có thai 2RHZ/ 4RH.
    Việc điều trị phải theo đúng nguyên tắc chữa bệnh lao. Đối với người có bệnh gan, thận kèm theo thì cần cân nhắc từng trường hợp cụ thể mà sử dụng thuốc cho hợp lý.
    Riêng đối với thể lao kê cần điều trị corticoid kết hợp.
    Theo dõi và đánh giá kết quả điều trị
    Để đánh giá kết quả điều trị cần phải theo dõi diễn biến của triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng, trong đó xét nghiệm tìm vi khuẩn lao trong đờm là quan trọng nhất.
    Sự âm hoá của vi khuẩn ở trong đờm là yếu tố cơ bản đánh giá bệnh tiến triển tốt. Theo quy định của Chương trình chống lao quốc gia (2006) các bệnh nhân lao phổi cần được xét nghiệm đờm vào các tháng thứ 2 (hoặc 3), 5,7 (hoặc 8) trong quá trình điều trị.
    Kết quả điều trị được chia thành 6 loại
    Khỏi: Bệnh nhân dùng thuốc đủ 8 tháng, kết quả xét nghiệm đờm tháng thứ 5 và 8 không có vi khuẩn. Nếu không xét nghiệm được ở tháng thứ 5 thì phải có 2 mẫu đờm xét nghiệm khi kết thúc điều trị không có vi khuẩn.
    Hoàn thành điều trị: Bệnh nhân dùng thuốc đủ thời gian, nhưng không xét nghiệm vi khuẩn khi kết thúc điều trị.
    Thất bại: Khi xét nghiệm đờm còn vi khuẩn ở tháng thứ 5 trở đi.
    Chuyển: Bệnh nhân được chuyển đi nơi khác điều trị.
    Bỏ điều trị: Người bệnh không dùng thuốc trên 2 tháng trong quá trình điều trị.
    Chết: Bệnh nhân bị chết trong quá trình điều trị vì bất kể căn nguyên gì.
    Một số tác giả còn dựa vào diễn biến tổn thương trên X quang (xoá, thu gọn, lấp hang...) để đánh giá hiệu quả điều trị.
    Một số biện pháp điều trị kết hợp
    Phẫu thuật: Phẫu thuật ngày càng hạn chế đối với điều trị lao phổi, chỉ được đặt ra khi người bệnh đã điều trị nội khoa không có kết quả (thường là vi khuẩn kháng thuốc), u lao, nhưng tổn thương lao phổi phải khu trú, chức năng phổi và thể trạng bệnh nhân chịu được phẫu thuật. Tại Khoa ngoại Bệnh viện Lao – Bệnh phổi trung ương, theo Vũ Đỗ (2004) phẫu thuật chủ yếu là cắt đoạn phổi (94,4%), cắt xẹp thành ngực (6,6%). Phẫu thuật cắt thuỳ trên chiếm 49,3% các trường hợp và gấp 3 lần cắt thuỳ d−ới (16,9%).
    Miễn dịch trị liệu: Những bệnh nhân lao phổi có vi khuẩn kháng thuốc, thường có rối loạn miễn dịch của cơ thể. Điều chỉnh lại những rối loạn miễn dịch được coi là một biện pháp điều trị hỗ trợ. Các biện pháp sử dụng để tăng cường miễn dịch cho cơ thể gồm: Các tế bào lympho T đã hoạt hoá, Thymalin (tinh chất của tế bào tuyến ức), Levamisol. Thymalin dùng 10 mg mỗi ngày trong 5 ngày, nhận thấy tăng đáp ứng cả miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể. Dùng Levamisol 150mg cách 3 ngày một lần (trong thời gian 3 tháng) sẽ tăng đáp ứng miễn dịch tế bào rõ rệt.
    Điều trị bệnh nhân lao phổi kháng thuốc
    Những nguyên tắc cơ bản
    Những bệnh nhân không là lao kháng đa thuốc có thể sử dụng lại phác đồ điều trị lại của Tổ chức Y tế Thế giới (1997) khuyến cáo: 2SRHZE / 1RHZE / 5R3H3E3.
    Bệnh lao kháng đa thuốc: Phải dùng thuốc loại 2.
    Giai đoạn tấn công: Dùng 5 loại thuốc (3 tháng).
    Giai đoạn duy trì: ít nhất là 18 tháng.
    Điều trị phải được kiểm soát trực tiếp: Theo dõi đờm hàng tháng trong 6 tháng đầu, sau đó 3 tháng 1 lần cho đủ 18 tháng.
    Phác đồ chữa bệnh lao kháng đa thuốc (WHO 1997, 2006)
    Giai đoạn tấn công Giai đoạn duy trì
    Kháng với
    Thuốc Số tháng Thuốc Số tháng tối
    tối thiểu thiểu
    Isoniazid Aminoglycozid 3 Ethinoamid 18
    Rifampicin và Ethionamid 3 Ofloxacin 18
    Streptomycin Pyrazinamid 3 Ethambutol
    Ofloxacin 3
    Ethambutol 3
    Isoniazid Aminoglycozid 3 Ethionamid 18
    Rifampicin Ethionamid 3 Ofloxacin 18
    Streptomycin và Pyrazinamid 3 Cycloserin (PAS)
    Ethambutol
    Ofloxacin 3
    Cycloserin (PAS) 3
    Cần lưu ý các thuốc chống lao loại 2 tác dụng lên vi khuẩn yếu và có nhiều tai biến, cho nên khi điều trị phải theo dõi chặt chẽ bệnh nhân. Hiện nay (2006) Chương trình chống lao quốc gia chưa sử dụng rộng rãi thuốc loại 2 để chữa bệnh lao kháng thuốc.
    Phòng bệnh
    Lao phổi là nguồn lây nên điều trị giải quyết nguồn lây là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất cho những người xung quanh. Người lao phổi không nên khạc nhổ bừa bãi để tránh lây bệnh cho người khác.
    Điều trị tích cực lao sơ nhiễm ở trẻ em cũng là biện pháp phòng lao phổi sau này. Những người mắc một số bệnh như đái tháo đường, loét dạ dày - tá tràng, bụi phổi, cần thường xuyên kiểm tra sức khỏe để phát hiện bệnh lao phổi kết hợp. Cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời lao phổi để phòng các biến chứng.

  8. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    mayman11 (24-03-2015)

  9. #5
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Tìm hiểu về lao kháng thuốc

    BS. Trần Thị Vân Thịnh
    Trung tâm điều trị bệnh hô hấp Phổi Việt

    Việt Nam là một trong những quốc gia mang gánh nặng về bệnh lao. Việt Nam đứng thứ 12 trong số 22 nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của bệnh lao trên thế giới. Một trong những khó khăn đối với việc điều trị lao cho người dân là tình trạng lao kháng thuốc, hay nói dễ hiểu hơn là bệnh nhân bị kháng với thuốc trị bệnh lao. Vậy phòng khám Phổi Việt chúng tôi trình bày một số kiến thức phổ thông để giúp các bạn hiểu thêm về bệnh lao kháng thuốc.

    1. Thuốc kháng lao gồm những loại nào?
    2. Bệnh lao kháng thuốc là gì ?
    3. Làm sao phát hiện lao kháng thuốc ?
    4. Tại sao tôi bị lao kháng thuốc ?
    5. Làm sao phát hiện sớm lao kháng thuốc?
    6. Điều trị lao kháng thuốc
    7. Tác dụng phụ của thuốc lao
    8. Phòng ngừa lây lao
    9. Liên lạc, giải đáp thắc mắc




    1. Thuốc kháng lao gồm có những loại nào ?

    Vi trùng lao dễ kháng thuốc, nên điều trị lao cần dùng kết hợp nhiều thuốc, chứ không thể chỉ dùng đơn thuần một loại thuốc lao mà điều trị khỏi bệnh được. Có 2 nhóm thuốc trị bệnh lao, mà các BS thường gọi là “thuốc kháng lao hàng 1” và “thuốc kháng lao hàng 2”:

    • Kháng lao hàng 1 gồm có 5 thuốc. Đây là các thuốc được lựa chọn đầu tiên để điều trị cho bệnh nhân bị lao:
      Rifampicin (viết tắt là RIF hay R),
      Isoniazid (INH hay H),
      Pyrazinamide (PZA hay Z),
      Ethambutol (EMB hay E), và
      Streptomycin (SM hay S).
    • Kháng lao hàng 2 gồm nhiều thuốc: Kanamycin, Capreomycin, Amikacin, Ethionamide, PAS, Cycloserin, Clofazimin, Ciprofloxacine, Ofloxacin, Levofloxacin, …
      Đây là các thuốc được dùng khi bệnh nhân bị kháng với thuốc lao hàng 1, hay dùng trong một số trường hợp đặc biệt. Các thuốc này thường có nhiều tác dụng phụ hơn và việc sử dụng thuốc cũng phức tạp hơn thuốc kháng lao hàng 1. Ngoài ra, giá thành của các thuốc kháng lao hàng 2 cũng đắt hơn rất nhiều.



    1. Lao kháng thuốc là gì ?

    “Kháng thuốc” là khi vi trùng lao trong cơ thể chúng ta kháng – chống lại với một hay nhiều loại thuốc lao được trình bày ở trên. Có những bệnh nhân chỉ bị kháng thuốc ở mức độ ít nghiêm trọng, nhưng có những bệnh nhân kháng thuốc mức độ nặng hơn gọi là “lao đa kháng thuốc”, và có những bệnh nhân kháng thuốc mức độ nguy hiểm hơn nữa gọi là “lao siêu kháng thuốc”. Tùy theo mức độ kháng thuốc mà BS sẽ lựa chọn phác đồ điều trị khác nhau cho bệnh nhân.


    1. Làm sao phát hiện lao kháng thuốc ?

    Bạn cần phải làm xét nghiệm nuôi cấy vi trùng lao và kháng sinh đồ lao. Có nghĩa là phòng xét nghiệm sẽ nuôi cấy mẫu bệnh phẩm của bạn (đàm, dịch cơ thể…) để tìm vi trùng lao, sau đó khi vi trùng lao mọc lên, chúng sẽ được thử với các loại thuốc lao xem “nhạy”với thuốc nào và “kháng” với thuốc nào. Quá trình nuôi cấy vi trùng và thử thuốc lao này mất khoảng 2 đến 3 tháng mới có kết quả. Như vậy, thông thường thì BS sẽ không thể biết được bạn có kháng thuốc lao hay không, khi bạn vừa mới được phát hiện bệnh lao.

    Hiện nay, ở Việt Nam đã có xét nghiệm giúp phát hiện kháng thuốc sớm và nhanh hơn là Hain test (thời gian thực hiện xét nghiệm khoảng 5 ngày) và Xpert MTB/RIF (thời gian thực hiện xét nghiệm khoảng 2 giờ). Tuy nhiên, hai xét nghiệm này có giá thành đắt, và không dùng phổ biến cho mọi bệnh nhân bị lao.


    1. Tại sao tôi bị lao kháng thuốc ?

    Có một số nguyên nhân dẫn đến lao kháng thuốc: do bản thân người bệnh, do vi trùng lao, và do cả thầy thuốc.

    • Nguyên nhân phổ biến nhất là do người bệnh không tuân thủ đúng theo điều trị: BN tự ý ngưng dùng thuốc lao hay dùng thuốc không đúng và không đầy đủ. Một số bệnh nhân sau một thời gian uống thuốc, thấy mình khỏe và không có triệu chứng gì, cho rằng mình đã khỏi bệnh nên tự ý bỏ trị lao. Bệnh nhân không biết rằng vi trùng lao “sống dai” và rất nguy hiểm. Sau một thời gian “nằm ẩn mình” và tìm cách chống lại thuốc lao, chúng sẽ hoạt động gây bệnh trở lại. Lúc này, người bệnh trở nên bị lao kháng thuốc, và bệnh sẽ nguy hiểm hơn lúc phát bệnh lao ban đầu. Ngoài ra, cũng có những bệnh nhân bị khó chịu do tác dụng phụ của thuốc lao trong quá trình điều trị, nhưng không đến tái khám để BS điều chỉnh thuốc, mà tự bỏ trị nửa chừng. Cũng có những bệnh nhân uống thuốc lao không đều đặn, hay uống không đủ liều thuốc…. Tất cả những trường hợp này đều tạo điều kiện thuận lợi cho vi trùng lao trở nên kháng thuốc.



    • Kháng thuốc có thể do vi trùng lao: vi trùng lao là loại vi trùng dễ đột biến, nói dễ hiểu hơn là chúng “rất khôn”, dễ thay đổi cấu trúc để chống lại thuốc lao. Ngay cả khi bệnh nhân được điều trị đúng cách và tuân thủ tốt việc dùng thuốc thì vi trùng lao vẫn có khả năng tìm cách chống lại thuốc lao. Vì vậy, bệnh nhân cần tái khám trong suốt quá trình điều trị lao để BS có thể phát hiện sớm tình trạng kháng thuốc.
      Ngoài ra, chúng ta cũng có thể mắc phải bệnh lao kháng thuốc ngay từ trước khi điều trị lao, có nghĩa là, chúng ta hít phải vi trùng lao vốn đã kháng thuốc từ những người khác đã bị lao kháng thuốc trong cộng đồng, và sau đó loại vi trùng kháng thuốc này sẽ sinh sôi nảy nở trong cơ thể chúng ta. Bạn cũng cần biết rằng trong cộng đồng chúng ta có rất nhiều người bị lao kháng thuốc, nhưng chưa được điều trị và những người này là nguồn lây lan lao kháng thuốc cho những người khỏe mạnh khác trong cộng đồng.



    • Cũng cần phải nói tới lao kháng thuốc còn có thể do thầy thuốc: thầy thuốc có thể mắc sai sót khi lựa chọn phác đồ điều trị lao không đủ các thuốc cần thiết cho bệnh nhân, hay khi cho bệnh nhân ngưng thuốc lao trong thời gian lâu, để điều trị các tác dụng phụ của thuốc, mà không theo dõi đầy đủ.


    1. Làm sao để phát hiện sớm lao kháng thuốc?

    Như đã trình bày ở phần trên, tình trạng kháng thuốc lao thường không thể biết được ngay khi mới phát hiện bệnh lao. Như vậy, đối với những bệnh nhân có nhiều nguy cơ kháng thuốc lao, ví dụ như những bệnh nhân bị tái phát lao nhiều lần, những bệnh nhân lao bỏ trị, hay không đáp ứng tốt với điều trị lao, …, thì BS có thể sớm đưa ra chỉ định xét nghiệm phù hợp để phát hiện sớm tình trạng kháng thuốc lao, giúp việc điều trị bệnh lao thành công.


    1. Điều trị lao kháng thuốc.

    Thời gian điều trị lao kháng thuốc có thể cần kéo dài đến 24 tháng. Điều trị lao kháng thuốc cần kết hợp nhiều loại thuốc lao hơn bình thường, và các thuốc lao hàng hai dùng trong điều trị lao kháng thuốc cũng có nhiều tác dụng phụ hơn. Do đó, quá trình điều trị lao kháng thuốc sẽ phức tạp hơn, và cần được theo dõi nhiều hơn.


    Lao kháng thuốc điều trị có hết không?
    Lao kháng thuốc có thể điều trị khỏi.
    Mặc dù lao kháng thuốc gây khó khăn cho việc điều trị lao thành công, nhưng tùytheo mức độ nhẹ, nặng, hay nguy hiểm của tình trạng kháng thuốc mà BS sẽ lựa chọn phác đồ điều trị lao phù hợp cho bệnh nhân.


    1. Tác dụng phụ của thuốc lao

    Ngoài tác dụng điều trị bệnh lao thì thuốc kháng lao có thể gây ra các tác dụng bất lợi cho người dùng thuốc. Có nhiều bệnh nhân cảm thấy rất khỏe và không thấy khó chịu gì khi uống thuốc lao, nhưng cũng có bệnh nhân lại gặp nhiều bất lợi và khó khăn khi dùng thuốc lao. Các tác dụng phụ của thuốc lao thì đa dạng, và tùy thuộc vào loại thuốc lao mà bạn đang uống, cũng như tùy thuộc vào cơ thể và tình trạng bệnh lý riêng của mỗi người bệnh. Các ảnh hưởng bất lợi thường gặp là gây độc gan, độc thận, rối loạn tiêu hóa, và tình trạng mẫn cảm (hay tăng phản ứng).

    Điều quan trọng là bạn cần tái khám đều đặn trong suốt quá trình điều trị, hoặc tái khám khi bạn có các triệu chứng bất thường. Như vậy, BS có thể theo dõi các tác dụng phụ và điều chỉnh thuốc cho phù hợp với cơ thể bạn.


    1. Phòng ngừa lây lao

    Bệnh lao hầu như chỉ lây lan qua đường hô hấp. Như vậy, chỉ những bệnh nhân bị lao phổi mới có khả năng phát tán vi trùng lao và lây lan bệnh cho người khác. Những bệnh nhân không bị lao ở phổi, mà bị lao ở các cơ quan khác (lao hạch, lao ổ bụng, lao màng não…) thì hầu như không lây lan bệnh lao cho người khác.

    Những bệnh nhân bị lao phổi kháng thuốc cần hiểu rằng, họ sẽ là nguồn lây lan bệnh lao kháng thuốc cho những người khác khi họ chưa được điều trị , hay khi họ bỏ trị lao kháng thuốc. Nếu bạn có người thân bị lao phổi kháng thuốc, bạn cần động viên người thân của mình tuân thủ đầy đủ theo hướng dẫn của bác sĩ, để giúp cho quá trình điều trị lao kháng thuốc có kết quả tốt đẹp. Những người có tiếp xúc thường xuyên với bệnh nhân lao phổi kháng thuốc, hay là có tiếp xúc với những bệnh nhân lao phổi nói chung, thì nên được khám kiểm tra để tầm soát bệnh lao.


  10. #6
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Bệnh Lao ngoài phổi
    Bệnh lao màng não (1:1 (GMT+7) - Thứ bẩy, 5-10-2013, Người gửi: Tuan Anh) - [ Gửi câu trả lời ]Mẹ em đang điều trị lupus ban đỏ ở Chợ Rẫy (các chỉ số đang ổn định) thì cách đây hơn 1 tuần mẹ có các triệu chứng về thần kinh như ngớ ngẩn, ko diễn đạt được lời nói... gđ đã đem đến Chợ Rẫy điều trị, sau một tuần làm đủ các xét nghiệm đã kết luận là lao màng não và cho thuốc uống cho thấy tác dụng ngay là không còn sốt (trước đó là sốt 39 độ liên tục, chỉ hạ tạm thời khi uống hạ sốt) và chuẩn bị chuyển sang viện Phạm Ngọc Thạch điều trị, hiện tại các dấu hiện thần kinh vẫn bất bình thường như lú lẫn, nói nhảm... đôi lúc trong ngày có tỉnh táo hơn, Em xin hỏi nếu bệnh có tiến triển tốt thì mẹ em có phục hồi được các chức năng thần kinh không? hay sẽ để lại di chứng? Và người nhà chăm sóc có cần đề phong bị lây bệnh Lao này không?
    Ẩn/Hiện câu trả lời...
    Chào em, mẹ em bị lupus do đó phải dùng các thuốc ức chế miễn dịch thường xuyên và kéo dài ( vd: medron, Predisone..), những thuốc này làm suy giảm tình trạng miễn dịch và dẫn đến bệnh lao bùng phát. Lao màng não, đáp ứng điều trị phụ thuộc vào giai đoạn phát hiện ( phát hiện sớm hay muộn ), tiên lượng tốt khi được phát hiện sớm, chưa có các triệu chứng thần kinh nặng nề vd: hôn mê, lú lẫn…., tuy nhiên đáp ứng của lao màng não rất khó trả lời chính xác, tiến triển có thể xấu thêm hoặc tốt lên nhiều khi không thể dự đoán trước được… ở trường hơp mẹ em, có lẽ là giai đoạn trung bình ( không sớm không muộn ), tuy nhiên trên người dùng corticoid thường xuyên thì lại là yếu tố tiên lượng không tốt. Chưc năng thần kinh có thể hồi phục được hoàn toàn, tuy nhiên một số trường hợp vẫn để lại di chứng như hay quên hoặc động kinh…. . Lao ngoài phổi “không lây” nếu so với lao phổi , vi vậy cần dự phòng những nguồn lây từ các bệnh nhân lao phổi khác, tuy nhiên với khẩu trang bình thường thì rất khó để nói rằng có khả năng ngăn chặn việc hít phải vi khuẩn lao. Chúc mẹ em mau khỏe. Thân mến.
    (7:12 (GMT+7) - Thứ hai, 7-10-2013, Trả lời bởi: Nguyên Kim Cương)
    Benh lao mang phoi (20:11 (GMT+7) - Thứ năm, 3-10-2013, Người gửi: SON DUC HUY) - [ Gửi câu trả lời ]Kinh thua bac si ! Toi da dieu tri benh lao mang phoi duoc 3 thang. Nay toi xin tu van bac si may cau hoi nhu sau: 1). Toi thay suc khoe cua toi co tien trien hon truoc nhieu vay toi bat dau lao dong duoc chua?. 2). Ban be thuong keu di nhau nhet nhung em luon tu choi vi khong dam uong ruou. Vay em xin hoi bac si la em co the uong ruou duoc khong?. Xin cam on bac si
    Ẩn/Hiện câu trả lời...
    Chào bạn, lao màng phổi đơn thuần, tiến triển thuận lợi thì bạn có thẻ đi làm sớm được vì không gây lây nhiễm cho người khác cũng như lao màng phổi không ảnh hưởng nhiều đến toàn trạng của bạn. Tuy nhiên nên lao động vừa phải vì dẫu sao bạn cũng đang trong giai đoạn điều trị bệnh. Về vấn đề đi nhậu thì kể cả đến khỏe chúng ta nói chung cũng không nên nhậu đến mức say sưa thì chắc chắn rằng không có lợi cho sức khỏe, đặc biệt khi bạn đang điều trị lao thì càng nên kiêng vì thuốc lao cũng có nhiều ảnh hưởng tới gan. Dưới góc độ chủ quan thì tôi thấy rằng nếu bệnh ổn định và thể lực cho phép, bạn có thể uống một chút bia rượu cũng không ảnh hưởng gì nhiều. Thân mến
    (21:1 (GMT+7) - Thứ năm, 3-10-2013, Trả lời bởi: Nguyên Kim Cương)
    Tu van benh lao mang phoi (15:37 (GMT+7) - Thứ bẩy, 31-08-2013, Người gửi: SON DUC HUY) - [ Gửi câu trả lời ]Kinh thua bac si! Em xin tu van bac si may cau hoi ve benh lao mang phoi nhu sau: 1) Em da tiem thuoc lao xong giai doan tan cong, vay e nen lam cac thu tuc xet ngiem gi de biet trong mang het vi trung lao?. 2) Em van con hoi met moi va thuong xuyen dau nhuc ben duoi day phoi bi lao, vay tinh trang nay co nguy hiem khong?. 3). Benh nay co can an kieng ca bien khong? xin bac si noi ro nhung thuc an nao tot va co loi cho cho benh nhan lao, nhung thuc an nao nen kieng ki?. xin cam on bac si nhieu.
    Ẩn/Hiện câu trả lời...
    1) Em da tiem thuoc lao xong;;;; Với lao ngoài phổi nói chung, lao màng phổi nói riêng, sô lượng vi khuẩn nghèo nàn, bệnh lý tại cơ quan bị bệnh không phải do gánh nặng vi khuẩn mà còn do đáp ứng của cơ thể, hiện nay chưa có một xét nghiệm nào có thể xác định được đã hết vi khuẩn chưa 2) Em van con hoi met moi va thuo.......? Triệu chứng đau tức vùng đáy phổi bên bệnh thường gặp ở các bệnh nhân tràn dịch và sẽ đỡ dần theo thời gian, có thể tính bằng năm. 3). Benh nay co can an kieng ca bien khong? ... an nao nen kieng ki?. . Quan điểm của mình là không kiêng gì cả, đảm bảo tối ưu về mặt dinh dưỡng vì lao phổi là một bệnh lý nhiễm trùng do đó cần tăng cường dinh dưỡng ( tất nhiên là phải phù hơp với tình trạng bệnh lý của người bệnh, vd: có Đái tháo đường hay không/..? )
    (22:43 (GMT+7) - Thứ ba, 3-09-2013, Trả lời bởi: Nguyên Kim Cương)
    Tràn dịch màng phổi trong quá trình điều trị (15:22 (GMT+7) - Chủ nhật, 18-08-2013, Người gửi: Nguyen Thi B) - [ Gửi câu trả lời ]Chào mẹ gấu đen, Em bị tràn dịch mp phải từ tháng 4, đã đtri tại BV LAO TW và chọc dịch 8 lần tất cả. Lần cuối e chọc dịch là vào 25/5. 2 tháng đầu tấn công em đtri theo phác đồ sau: - tiêm steptomicin của Nga 3/4 lọ/ ngày - RH 0,25g 3v/ ngày -Pizanamide 0,5g 3v/ ngày - T-moduvax 80mg 2v/ngày - vitamin 3B 2v/ngày - senoxyde Q10 2v/ngày Em uống và tiêm đều đặn đồng thời vào khoa Phục hồi chức năng tập chăm chỉ trong vòng tháng rưỡi vì lúc đó em đã bị dày dính rồi. Sau đó chuyển sang tháng thứ 3 em ko pải tiêm nữa, chỉ uống thuốc với phác đồ như sau: - RH 3,5v/ngày - Ethambutol 3v/ngày -T-moduvax 2v - Revive 2v/ngày -vitamin 3B 2v/ngày -Senoxyde Q10 2v/ngày. Sau khi em uống đc 1 tuần thì 13/6 e lại thấy người mệt mỏi trở lại như hồi còn dịch và hơi khó thở, khó chịu. Em lại vào viện khám thì khi siêu âm lại phát hiện có ít dịch. Em rất lo lắng nhưng bs bảo k sao cứ uống thuốc ddều là hết, có thể là do từ tiêm chuyển sang chỉ uống thuốc nên nó phát sinh ra ít dịch. 1 tuần sau thì e cũng thấy khỏe hơn thật và ko bị mệt nữa. E đã đạp xe đạp đc gần 10km mà k bị mệt. E phấn khởi lắm. Đến tháng thứ 4 bác sĩ vẫn kê cho em đơn thuốc như tháng thứ 3. Đến khi uống đc 10 ngày thuốc tháng thứ 4 thì e thấy người mệt mỏi k còn sức lực nữa. Hiện tại e vẫn thấy khó chịu và đau tức vùng đáy phổi. Em nghi ngờ vẫn còn dịch nên thử ra ngoài siêu âm thì thấy có nhiều ổ dịch nhỏ ở đáy phổi, nhưng vì có vách ngăn fibrin nên k chọc đc nữa. Em hoang mang quá vì e đã đtri đc 4 tháng rưỡi rồi mà vẫn còn dịch mà ko dứt điểm đc thì khi hết 8 tháng k biết có khỏi đc k, e rất sợ bị kháng thuốc. Vậy nên em đã đến đky khám GS Cồ. Khi nhìn phim thì GS bảo em k chỉ bị lao màng phổi mà còn bị lao phổi vì có những nốt chấm trắng và phần dưới đáy phổi có hình ngang bằng đấy chính là dịch, còn dày dính là phần ngoài cùng bên góc sườn hoành. Gs bảo nếu muốn đtri dứt điểm yh!if phải tiêm tích cực lại 2 tháng và tiêm Kana + uống thuốc RH+ Ethambutol+ levoFloxacin(1,5v/ngày). Vậy e có nên làm theo phác đồ mới này ko vì e sợ lao kháng thuốc lắm. Bs cho em lời khuyên nhé, e đã đj đc 1/2 chặng đường rồi mà vẫn có dịch nên em lo lắng và tuyệt vọng quá. Em gửi kèm ảnh phim chụp XQ của e ngày 25/7 ạ.
    Ẩn/Hiện câu trả lời...
    Tôi xin trả lời em theo từng ý sau nhé. Em bị tràn dịch mp phải từ tháng 4, đã đtri tại BV LAO TW và chọc dịch 8 lần tất cả. Lần cuối e chọc dịch là vào 25/5. 2 tháng đầu tấn công em đtri theo phác đồ sau: - tiêm steptomicin của Nga 3/4 lọ/ ngày - RH 0,25g 3v/ ngày -Pizanamide 0,5g 3v/ ngày - T-moduvax 80mg 2v/ngày - vitamin 3B 2v/ngày - senoxyde Q10 2v/ngày Trong quá trình nằm viện em có được làm xét nghiệm đờm không? Có được chụp Phim CT không? Và bs có kết luận rằng em có tổn thương nhu mô phổi hay không??? Em uống và tiêm đều đặn đồng thời vào khoa Phục hồi chức năng tập chăm chỉ trong vòng tháng rưỡi vì lúc đó em đã bị dày dính rồi. Sau đó chuyển sang tháng thứ 3 em ko pải tiêm nữa, chỉ uống thuốc với phác đồ như sau: - RH 3,5v/ngày - Ethambutol 3v/ngày -T-moduvax 2v - Revive 2v/ngày -vitamin 3B 2v/ngày -Senoxyde Q10 2v/ngày. Như vậy là em đã được uống thuốc đầy đủ, bao gồm cá thuốc điều trị cũng như những thuốc hỗ trợ điều trị. Với liều thuốc này em phải từ 55kg trở lên Sau khi em uống đc 1 tuần thì 13/6 e lại thấy người mệt mỏi trở lại như hồi còn dịch và hơi khó thở, khó chịu. Em lại vào viện khám thì khi siêu âm lại phát hiện có ít dịch. Một số trường hợp vẫn còn một chút dịch sau những tháng đầu điều trị, dần dần dịch màng phổi sẽ hấp thụ hết, tuy nhiên thường đi kèm với di chứng dầy dính màng phổi. Em rất lo lắng nhưng bs bảo k sao cứ uống thuốc ddều là hết, có thể là do từ tiêm chuyển sang chỉ uống thuốc nên nó phát sinh ra ít dịch. 1 tuần sau thì e cũng thấy khỏe hơn thật và ko bị mệt nữa. E đã đạp xe đạp đc gần 10km mà k bị mệt. E phấn khởi lắm. Đến tháng thứ 4 bác sĩ vẫn kê cho em đơn thuốc như tháng thứ 3. Đến khi uống đc 10 ngày thuốc tháng thứ 4 thì e thấy người mệt mỏi k còn sức lực nữa. Hiện tại e vẫn thấy khó chịu và đau tức vùng đáy phổi. Em nghi ngờ vẫn còn dịch nên thử ra ngoài siêu âm thì thấy có nhiều ổ dịch nhỏ ở đáy phổi, nhưng vì có vách ngăn fibrin nên k chọc đc nữa. Em hoang mang quá vì e đã đtri đc 4 tháng rưỡi rồi mà vẫn còn dịch mà ko dứt điểm đc thì khi hết 8 tháng k biết có khỏi đc k, e rất sợ bị kháng thuốc. Nếu có nhiều ổ dịch nhỏ, cần phải theo dõi sát về tiến triển của ổ dịch cũng như trên lâm sàng để có hướng xử trí phù hợp, nếu dịch tăng nhiều, nhiều ổ, nhiều vách và ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, thông khí phổi ( trên xét nghiệm ) thì có thể cần can thiệp ngoại khoa ( nội soi cắt, gỡ dính màng phổi ) ( Việc xuất hiện dầy dính màng phổi cũng như vách hóa, dầy dính phụ thuộc và cơ địa bệnh nhân chứ nhiều khi không phải do thuốc điều trị …., Vậy nên em đã đến đky khám GS Cồ. Khi nhìn phim thì GS bảo em k chỉ bị lao màng phổi mà còn bị lao phổi vì có những nốt chấm trắng và phần dưới đáy phổi có hình ngang bằng đấy chính là dịch, còn dày dính là phần ngoài cùng bên góc sườn hoành. Những chấm trắng thùy dưới phổi P của em, trên phim em gửi có thẻ là tổn thương lao những cũng có thể là hình ảnh dải xơ dầy dính phổi. Để xác định có tổn thương nhu mô phổi hay không cần kết hợp xem em có triệu chứng lâm sàng như ho khạc đờm không? Ngoài ra trong trường hợp này một phim CT phổi rất có giá trị đánh giá tổn thương nhu mô phổi cũng như mức độ dầy dính phổi P Gs bảo nếu muốn đtri dứt điểm yh!if phải tiêm tích cực lại 2 tháng và tiêm Kana + uống thuốc RH+ Ethambutol+ levoFloxacin(1,5v/ngày). Anh có thể khẳng định là không thể nói rằng điều trị dứt điểm được bất cứ một thể lao gì. Anh hoàn toàn phản đối trên quan điểm cá nhân của anh về việc dùng một phác đồ điều trị “ lao đa kháng nửa vời” khi mà chưa có bất cứ một chút bằng chứng nào về việc lao kháng thuốc ngoài trừ việc diễn biến bệnh không thuận lợi. Dùng thuốc như vậy sẽ là cơ hội để xuất hiện lao đa kháng thuốc nếu như lần sau em bị bệnh lại. Đã có bằng chứng về lao đa kháng và siêu kháng ở những trường hợp có tiển sử dùng fluroquinolones. http://benhlao.org/Default.aspx?tabi...9#.UhCC621_59E ( phần kết quả điều trị )
    (15:24 (GMT+7) - Chủ nhật, 18-08-2013, Trả lời bởi: Nguyên Kim Cương)
    Tu van bac si ve benh lao mang phoi (9:6 (GMT+7) - Chủ nhật, 11-08-2013, Người gửi: SON CHANH DON) - [ Gửi câu trả lời ]Kinh thua bac si! Em bi benh lao mang phoi va da tiem thuoc chong lao duoc 55 mui, con 5 mui nua la het giai doan tan cong. Vay em xin hoi bac si nhu sau: 1) Em phai lam xet nghiem bang phuong phap nao de biet duoc trong mang phoi con vi khuan lao hoac da het vi khuan?. 2) Benh lao mang phoi co kieng ki nhung thuc an nao? Thuc an nhu thit ga, thit bo, con luon , co an duoc khong?. Xin cam on bac si. Chuc bac si hanh phuc
    Ẩn/Hiện câu trả lời...
    Chào anh, mình xin trả lời anh như sau 1) Em phai lam xet nghiem bang phuong phap nao de biet duoc trong mang phoi con vi khuan lao hoac da het vi khuan?. Nếu như trước đây anh tìm thấy vi khuẩn trong màng phổi, nay không tìm thấy nữa thì có thể gọi là khỏi. Tuy nhiên thực tế rất ít trường hợp tìm thấy vi khuẩn trong màng phổi, ngoài ra thì bây giờ có thể anh đã không còn dịch màng phổi nữa thì việc lấy được dịch làm xét nghiệm là không thể. Việc xác định khỏi lao trong nhiều trường hợp phải hiểu theo nghĩa diễn biến tích cực trên lâm sàng ( hết sốt, hết ho, hết dịch, ăn uống tốt, tăng cân…), hoặc bằng các xét nghiệm ( hết vi khuẩn trong đờm, hình ảnh Xq tốt…) chứ không khẳng định được theo nghĩa là hoàn toàn hết sạch vi khuẩn lao.. 2) Benh lao mang phoi co kieng ki nhung thuc an nao? Thuc an nhu thit ga, thit bo, con luon , co an duoc khong?. Quan điểm tây y và của riêng mình về dinh dưỡng với điều trị lao là đảm bảo dinh dưỡng tốt nhất, vì lao là bệnh lý nhiễm trùng, có liên quan đến điều kiện dinh dưỡn. Trong quá khứ, chỉ bằng đảm bảo dinh dưỡng và nghỉ ngơi mà người ta có thể điều trị khỏi bệnh lao. Tất nhiên là trong trường hợp bạn có các bệnh lý liên quan đến dinh dưỡng như tiểu đường, suy thân… thì vẫn cần có sự tư vấn của chuyên gia dinh dưỡng để có chế độ ăn phù hợp. Chúc anh mau khỏe
    (12:22 (GMT+7) - Chủ nhật, 11-08-2013, Trả lời bởi: Nguyen Kim Cuong)
    Lao mang phoi ben phoi (17:54 (GMT+7) - Thứ bẩy, 3-08-2013, Người gửi: SON DUC HUY) - [ Gửi câu trả lời ]Kinh thua bac si Nguyen Kim Cuong. Em bi tran dich mang phoi do lao (Phoi ben phai). Em xin hoi bac si la lao mang phoi trong dam co vi trung lao khong? Em duoc choc hut dich duoc ba lan thi bac si cho em xuat vien, nhung van con dich trong mang phoi , em co hoi bac si noi dung thuoc chong lao tu tu se het dich. Em xin hoi bac si noi vay co dung khong? Em tiem thuoc chong lao duoc 35 mui nhung suon ben choc lay dich co cam giac rat dau nhuc vay co sao khong? xin cam on bac si. Chuc bac si manh khoe va hanh phuc.
    Ẩn/Hiện câu trả lời...
    Chào bạn, mình xin trả lời bạn như sau: 1- Trong đờm vẫn có thể có vi khuẩn nếu như đồng thời bạn có cả tổn thương phổi ( lao phổi ), vì một số trường hợp lao màng phổi đồng thời lao phổi bạn ạ. 2- Bác sỹ nói đúng vậy trong phần lớn trường hợp, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp dịch không những không hết mà có thể vẫn còn tăng lên ( mặc dù vẫn là lao màng phổi ), hoặc dịch không hết để lại thành di chứng ổ cặn màng phổi hoặc dầy dính màng phổi. Tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy một số những trường hợp này sau một thời gian ( hàng năm ) có thể trở lại bình thường. 3- Đau nhức ( tức ) bên phổi tràn dịch là cảm giác vẫn thường gặp ở các bệnh nhân bạn ạ, cảm giác này sẽ hết dần. Tuy nhiên nếu như đau không giảm và ngày càng tăng cùng với tình trạng dịch màng phổi không hết thì bạn cần tới gặp bác sỹ để khám lại. Chúc bạn mau khỏe
    (0:58 (GMT+7) - Chủ nhật, 4-08-2013, Trả lời bởi: Nguyên Kim Cương)
    Bệnh lao màng não có lây không? (16:20 (GMT+7) - Thứ năm, 11-07-2013, Người gửi: Le Tuyet Nhung) - [ Gửi câu trả lời ]Chào bác sĩ! Em xin hỏi bác sĩ một số câu hỏi sau ạ: 1. Sau khi chọc tủy bao lâu thì có đươc kết quả lao màng não? 1. Bệnh lao màng não có lây không ạ? 2. Những thành viên trong gia đình (gồm cả trẻ con, người già) nên áp dụng những biện pháp gì khi sống cùng bệnh nhân lao màng não? Em mong sớm nhận được câu trả lời của bác sĩ. Em cảm ơn anh, chúc anh và gia đình sức khỏe!
    Ẩn/Hiện câu trả lời...
    Chào em, tôi xin trả lời câu hỏi của em như sau: Để khẳng định chắc chắn lao màng não khi tìm thấy vi khuẩn trong dịch não tủy, soi trực tiếp rất ít khi tìm thấy vi khuẩn, nuôi cấy bằng các phương pháp mới có thể có kết quả sau 2 tuần ( tuy nhiên nuôi cấy không tìm thấy vi khuẩn không có nghĩa là không phải bị lao màng não bạn ạ ). Trên thực tế người ta thường dựa vào một số đặc điểm sinh hóa, các thành phần tế bào trong dịch não tủy để định hướng tới nguyên nhân lao màng não cũng như loại trừ những nguyên nhân khác, trong trường hợp này thì chỉ cần 1 vài giờ đông hồ có thể có kết quả cho những xét nghiệm này rồi. Lao màng não đơn thuần chắc chắn không lây theo cách hiểu thông thường là vi khuẩn lây từ người bệnh sang người lành, lý do là vi tổn thương lao màng não trong khoảng kín ( hộp sọ ) không có thông ra ngoài như lao phổi và lao ngoài phổi nói chung là thể lao số lượng vi khuẩn rất nghèo này ( paucilary ), tuy nhiên nếu lao màng não trong bệnh cảnh một trường hợp lao phổi kèm theo thì hoàn toàn có nguy cơ lây, nhưng đây là từ phổi. Những người sống cùng trong nhà có bệnh nhân lao màng não, như mình trả lời ở trên, sẽ không cần phải có biện pháp gì đặc biệt cả, trừ trường hợp bệnh nhân có lao phổi kèm theo, khi đó cần có biện pháp phòng lao như trong trường hợp lao phổi thôi.
    (23:37 (GMT+7) - Thứ bẩy, 13-07-2013, Trả lời bởi: Nguyên Kim Cương)

  11. #7
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Lao ngoài phổi




  12. #8
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    KHOA HỌC Y DƯỢC/Sức khoẻ con người/Hỏi đáp về các căn bệnh
    Nội dung hỏi
    :
    Lao hạch là gì? Cách điều trị?

    Nguồn trích:
    Bách khoa thư bệnh học
    . File đính kèm:

    Trả lời
    :
    Lao hạch là một loại lao ít nguy hiểm, không gây tử vong, nhưng khá phổ biến và diễn biến kéo dài, gây trở ngại trong sinh hoạt, thường để lại nhiều di chứng, những sẹo dị dạng. Việc chẩn đoán lao hạch trong nhiều trường hợp thường không chính xác và việc điều trị thường không chu đáo vì hay bị coi nhẹ.
    Có hai thể lao hạch chính: lao hạch khí phế, biểu hiện của lao sơ nhiễm gặp chủ yếu ở trẻ nhỏ và lao hạch ngoại vi, một loại lao ngoài phổi thuộc thời kì sau sơ nhiễm của quá trình nhiễm lao, có thể gặp ở mọi lứa tuổi.Ở đây chỉ đề cập đến bệnh lao hạch ngoại vi. Vấn đề lao hạch khí phế quản được trình bày chung trong bài lao sơ nhiễm.Người ta chưa có các số liệu chính xác về tình hình mắc lao hạch ở mỗi nước cũng như trên thế giới. Lí do là vì không được phát hiện, thống kê hoặc chẩn đoán không chính xác, không áp dụng cùng tiêu chuẩn giữa các nước.Về lí thuyết, khi có 100 trường hợp lao phổi có vi khuẩn thì sẽ có khoảng 120 trường hợp lao phổi không có vi khuẩn và lao phổi (Stublo), trong số này tỉ lệ rất khác nhau.Một thống lê tổng hợp của bác sĩ Lin (Viện nghiên cứu lao Tokyo, 1986) cho thấy lao ngoài phổi rất phổ biến ở các nước thuộc quần đão nam Thái Bình Dương (Solomon 31,8% tổng số bệnh nhân lao điều trị, Tonga 21,8%, Papua Niu Guini 31,2%) trong khi ở lục địa Châu Á lại khá thấp (Nhật Bản 10.4%, Xingapo9,8%). Lí do được giải thích vì lao là một bệnh mới xuất hiện ở các đão trong ki ở lục địa thì đã tồn tại từ lâu đời.Ở Việt Nam, tại Viện lao và bệnh phổi, lao hạch gặp tương đối phổ biến.Theo thống kê của bác sĩ Nguyễn Duy Linh, trong 15 năm (1976 - 91),. Viện đã thăm 9252 trường hợp nghi ngờ lao hạch, trong số đó 3546 được xác định về phương diện tế bào học. Như vậy, trung bình mỗi năm có khoảng 230 trường hợp lao hạch đã được chẩn đoán.Về tuổi mắc bệnh, theo lí luận bệnh sinh, lao hạch dễ xuất hiện ở thanh thiếu niên (giai đoạn 2 của phân kì Ranke, khi dị ứng phát triển mạnh, miễn dịch mới hình thành). Tuy nhiên, có thể do chẩn đoán muộn, nhiều bệnh lao hạch có tuổi đời khá cao (66% từ 31 - 50 theo tổng kết của bác sĩ Đỗ Thị Lụa. Viện lao và bệnh phổi, 1991). Ở người trên 60 tuổi cũng có thể gặp từ 9.6% (Đặng Thị Hương) đến 11.3% (Nguyễn Duy Linh).Về giới, không thấy có sự khác biệt đáng kể. Tuy nhiên, trong tổng kết của bác sĩ Nguyễn Duy Linh đã nêu một tỉ lệ đáng lưu ý về mắc lao hạch sau sinh đẻ ở phụ nữ.Về nguyên nhân: cũng như đối với bệnh lao nói chung, người ta mắc lao hạch vì 2 lí do: vi khuẩn và cơ địa.Về vi khuẩn: Mycobactérum là căn nguyên của lao hạch với các chứng lao người, lao bò hoặc cả không điển hình.Chủng lao là nguyên nhân phổ biến nhất. Chủng lao bò hay gây bệnh trước kia ở Châu Âu cũng như ở Ấn Độ, khi còn thời gian thói quen uống sữa bò chưa tiệt trùng Mycobactérum không điển hình được phân lập ngày càng nhiều trong lao hạch nhiều nước Châu Âu, nhưng ở nước kinh tế đang phát triển, dịch tễ lao cao, có vẻ ít gặp hơn. Ở Ấn Độ, trong 128 hạch viêm có thương tổn lao rõ rệt qua sinh thiết đã tìm thấy vi khuẩn lao ở 101 trường hợp và chỉ thấy M. scrofulaceum ở 1 (Krishnaswami, 1972). Ở Kenya, trong 57 trường hợp lao hạch, thấy ở 41 có vi khuẩn lao và không phát hiện được vi khuẩn lao bò hoặc không điển hình (Sula, 1960).Ở Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về vấn đề này, nhưng theo bác sĩ Nguyễn Duy Linh, khoảng 3 - 5% trường hợp có thể nghĩ là do M. không điển hình gây nên.Ngoài vi khuẩn, lao hạch còn có những nguyên nhân toàn thân và tại chỗ. Sức khoẻ suy nhược, khả năng đề kháng của cơ thể giảm sút, suy dinh dưỡng cũng như hạch đã bị thương tổn do các căn nguyên không đặc hiệu, vi khuẩn, vi rút, v.v..., đều là những điều kiện dễ làm tăng khả năng mắc lao hạch.Về bệnh sinh học: lao hạch là một biểu hiện của quá trình nhiễm lao chung của cơ thể, vi khuẩn lao từ thương tổn ban đầu (trong đa số trường hợp là ở phổi) lan tràn theo đường máu hoặc đường bạch huyết và đến gây bệnh ở hạch. Các khả năng lan tràn cũng như khu trú của vi khuẩn này đều tuân thủ những quy luật chung của quá trình nhiễm lao và có một số điểm đáng lưu ý sau:Lao hạch có thể xuất hiện trong cả 2 thời klì sơ nhiễm và sau sơ nhiễm, nghĩa là hoặc đồng thời vời giai đoạn vi khuẩn mới xâm nhập hoặc muộn hơn, khi dị ứng tăng mạnh, hỗ trợ cho sự lan tràn của những vi khuẩn đã bị khu trú sau sơ nhiễm.Trong căn nguyên lao hạch, vai trò của cơ địa cũng quan trọng không kém vi khuẩn và mối tương quan miễn dịch - dị ứng ở đây cũng có tính chất quyết định không kém so với các thể lao khác.Về phương diện giải phẫu bệnh lí, lao hạch cũng mang những thương tổn đặc hiệu của lao nói chung và khỏi, trong tuyệt đại đa số trường hợp, cũng sẽ chỉ là một quá trình sinh xơ hoặc vôi hoá, sự hồi phục hoàn toàn hầu như rất ít khả năng xảy ra.Cũng trong quy luật của bệnh lao nói chung, lao hạch có khả năng diễn biến lâu dài với những giai đoạn ổn định và phát triển nối tiếp nhau lệ thuộc những yếu tố phúc tạp của mối tương quan vi khuẩn - cơ thể.Các triệu chứng của lao hạch nhìn chung đơn giản, khá rõ rệt, dễ nhận biết. Thông thường khi được phát hiện triệu chứng chủ yếu là hạch sưng ở những mức độ khác nhau, có thể chia làm 4 hình thái để theo dõi:Ở giai đoạn 1, hạch nhỏ và hôi sâu, sờ mới thấy, đơn độc hoặc thường gặp hơn, từng chuỗi 4 - 5 hạch nằm dọc 2 bên cổ. Hạch cứng, di dộng nắn không đau, không mang tính chất viêm. Về kích thước, hạch thường to bằng khoảng từ hạt ngô đến hạt táo nhỏ. Ở trẻ em, hạch to hơn so với người lớn vì thường ở gần giai đoạn sơ nhiễm hơn và theo Miller (1982) hạch viêm ở bệnh nhân Châu Phi hoặc Ấn Độ thấy to hơn so với Châu Âu.Ở giai đoạn 2, hạch sưng to hơn, nổi cộm trên da, mọng mềm, có khả năng vỡ rò, tuy nhiên, sờ nắn vẫn không đau, không nóng, không sưng đỏ.Ở giai đoạn 3, hạch vỡ, rò, tiết ra một loại mủ trắng nhờ, kéo dài, bờ loét nham nhở, một hoặc nhiều hạch có thể cùng bị rò loét đồng thời hoặc lần lượt theo dọc một chuỗi, do đó trong nhân dân ta đã có danh từ “tràng nhạc” để mô tả lao hạch.Ở giai đoạn 4, hạch loét đã liền miệng, để lại di chứng là một hàng những sẽo xấu, co kéo, nhăn nhúm. Trong nhiều trường hợp, sớ nắn dọc các sẹo vẫn còn thấy một số hạch nhỏ ở dưới đạ bị xơ hoặc vơi hoá ít hay nhiều. Nếu còn hạch mềm, khả năng tái phát dễ xảy ra hơn. Vị trí thường gặp nhất của lao hạch là ở dọc hai bên cổ theo bờ cơ ức đờm chũm (70- 75% trường hợp), tiếp sau đó là khu vực dưới hàm 9% (Đỗ Thị Lụa) đến 14% (Nguyễn Duy Linh). Trong một số ít trường hợp (3 - 4%), có thể gặp hạch ở vùng nách hoặc bẹn.Mặc dù các triệu chứng của lao hạch tương đối dễ nhận biết, việc chẩn đoán không đơn giản.Có rất nhiều nguyên nhân không phải là có thể gây viêm hạch, cần xem xét thận trọng để loại trừ.Hạch có thể bị sưng do các vi khuẩn gây bệnh thông thường và rất dễ gặp ở Việt Nam khi mắc các bệnh viêm nhiễm vùng đầu mặt, tai mũi họng, răng miệng. Đây là những loại hạch mang tính chất viêm cấp tính, đau khi nắn, dễ apxe hoá. Làm xét nghiệm có thể thấy vi khuẩn. Lymphoxacom hạch gặp chủ yếu ở người lớn tuổi, diễn biến có khi kéo dài, hạch cứng sờ không đau. Việc chẩn đoán được xác định trên sinh thiết.Các bệnh hạch ác tính khác như Hodgkin hoặc thứ phát của ung thư dạ dày, êpithêlioma môi, lưỡi, v.v... có những biểu hiện lâm sàng khác kèm theo và cũng được xác định bằng sinh thiết.Bệnh lơcô cấp, một bệnh máu ác tính, kèm viêm hạch nhiều nơi và gan, lách to, được chẩn đoán phân biệt trên huyết đồm tuỷ đồ.Ngoài ra hạch cũng còn có thể bị viêm sưng trong các bệnh giang mai, bệnh huyết thanh và ít nguy hiểm hơn do bệnh của hạch nước bịt hoặc u lành vùng họng.Thông thường, việc chẩn đoán lao hạch được căn cứ trên các yếu tố sau đây:Những đặc điểm về lâm sàng: như đã nêu trên về tính chất, vị trí, kích thước. Chú ý đặc điểm không đau, di động, nhiều hạch xép dọc theo hàng. Làm phản ứng trong da với tuberculin thấy dương tính nhiều khi khá mạnh. Theo số liệu của bác sĩ Đỗ Thị Lụa, trên 113 bệnh nhân lao hạch điều trị ngoại trú tại Viện lao và bệnh phổi (1989 - 1991) hơn 90% dương tính với đường kính nốt cục trên 20mm.Làm sinh thiết hạch là một yếu tố chẩn đoán quan trọng có tính chất quyết định. Trong 1175 trường hợp lao hạch, bác sĩ Nguyễn Duy Linh đã thấy 70% là bã đậu hoàn toàn bộ, 21% có tế bào đặc hiệu bán liên và tế bào khổng lồ, chỉ có 9% mang hình ảnh không đặc hiệu. Khi có kinh nghiệm, sinh thiết hạch là một thủ thuật không có gì nguy hiểm.Cần chụp X quang phổi để tìm các thương tổn lao phối hợp. Theo bác sĩ Đặng Thị Hương ở viện lao và bệnh phổi, những thương tổn như vậy đã gặp ở 52% số bệnh nhân mắc lao hạch.Ngoài ra, còn có nhiều trường hợp lao hạch gặp phối hợp với lao thanh quản, lao khớp, lao màng não, lao hạch mạc treo (khoảng 20% tổng số).Tiền sử đã bị nhiễm lao hoặc mắc một thể lao khác cũng là một yếu tố có thể giúp ích cho chẩn đoán. Ngoài ra, cũng cần hỏi về nguồn lây, khả năng tiếp xúc với người mắc bệnh. Trong một số trường hợp, nhất là ở trẻ nhỏ, lao hạch có thể có một số biểu hiện toàn thân như sốt nhẹ, gầy sút, biếng ăn, mệt mỏi.Có tác giả nêu những thay đổi về số lượng hồng cầu, tỉ lệ các loại bạch cầu trong máu, tuy nhiên, những hình ảnh này ít mang tính chất đặc hiệu. Trong một số trường hợp, nhất là khi đã có rò loét, hạch bị bội nhiễm, sẽ có sưng, nóng, đau, v.v... nên tìm hiểu kỹ để không loại trừ căn nguyên lao.Một điều khác đáng lưu ý là hạch sưng sau khi tiêm BCG. Loại này thường có vị trí ở vùng hạch, cùng bên tiêm vacxin, có khi ở cổ và hố trên xương đòn nếu tiêm quá cao và mang những tính chất như một hạch lao. Tuy nhiên, đây chỉ là hạch viêm do BCG, không thể gọi là lao hạch, chọc hút mủ đem nuôi cấy có thể thấy trực khuẩn kháng cồn axit BCG (Nguyễn Duy Linh).Điều trị: Tuy là một thể lao nhẹ, nhưng việc điều trị lao hạch cũng phải tuân thủ các nguyên tắc của chữa lao nói chung và gồm các nội dung toàn thân, tại chỗ, nội khoa, ngoại khoa, đặc hiệu và không đặc hiệu.Đối với mọi trường hợp, cần xác định một phác đồ điều trị bằng thuốc hoá học chu đáo ngay từ đầu, căn cứ phân loại chẩn đoán đã nói trên. Tuỳ giai đoạn, tính chất thương tổn, tại chỗ và toàn thân (có hoặc không kèm các thể lao khác, cũ hoặc đang phát triển) mà lựa chọn những phương pháp thích hợp.Có thể dùng phối hợp chỉ 2 loại thuốc hoá học (không bao giờ dùng một loại để chcữa lao) cho những thể nhẹ nhưng cũng có khi phải 3 - 4 loại cho thể nặng hơn, Ngoài ra, cần lưu ý tính chất hoá lí của thuốc chữa lao, vốn có tác dụng khác nhau đối với các trạng thái phát triển khác nhau của vi khuẩn.Thông thường có thể dùng INH và pyrazinamid hoặc streptomycin, Phối hợp cả 3 loại khi bệnh nặng hơn. Trong lao hạch, ít có hình thành hang mà chủ yếu là sự phát triển của tổ chức bã đậu, do đó, rifampicin có hiệu lực hơn so với các loại thuốc chống lao khác và có thể dùng phổ biến hơn. Streptomycin là loại thuốc chỉ thích hợp khi vi khuẩn sinh sản nhanh.Thời gian điều trị không nên dưới 6 tháng trong đó có 2 hoặc 3 tháng dùng thuốc hằng ngày. Về liều lượng cụ thể, có thể tham khảo bảng dưới đây (trích theo Uỷ ban điều trị. Hiệp hội bài lao quốc tế, 1998):

    INH Strept-omycin Pyrazi-namit Etham-butol Rifam-picin
    Khi dùng hàng ngày mg/kg (trẻ em, người lớn). 5 15 25 15 10
    Khi dùng cách ngày mg/kg (trẻ em, người lớn) 10 15 35 45 10
    Chú ý: Khi dùng cách ngày, nếu 3 lần một tuần thì liều thấp hơn so với 2 lần một tuần.Đối với những hạch chưa vỡ, rò, việc tiêm streptomycin tại chỗ là không cần thiết vì không có tác dụng hơn tiêm toàn thân.Đối với những hạch đã vỡ miệng, cần phối hợp điều trị tại chỗ. Trong những trường hợp hạch loét nhỏ, có thể rắc rifampicin, streptomycin, băng nhẹ để tránh bội nhiễm, lau rửa hàng ngày hoặc 2, 3 ngày/lần tuỳ từng trường hợp. Khi hạch loét to, phải xử trí bằng phẫu thuật. Theo kinh nghiệm nhiều năm tại Viện lao và bệnh phổi (Đỗ Ngọc Đức), cần nạo vét sạch các tổ chức có thương tổn, có trường hợp phải 2 - 3 lần can thiệp, sau đó kết hợp với rắc kháng sinh tại chỗ.Theo một quan điểm của các tác giả Châu Âu (Miller, 1982), phù hợp với các nước bệnh lao không phổ biến, nên sử dụng phẫu thuật sớm, rộng rãi đối với mọi trường hợp lao hạch dù rất nhỏ chưa có cả nguy cơ vỡ rò. Dùng kỹ thuật nạo sạch hạch viêm với đường rạch tiếp cận tối thiểu. Các tác giả cho rằng sẽ điều trị được tận gốc bệnh căn (tại chỗ) loại trừ nguy cơ tái phát và nhất là thẩm mĩ được bảo đãm (không còn khả năng gây sẹo xấu do diễn biến tự nhiện).Kinh nghiệm của bác sĩ Đỗ Ngọc Đức cũng cho đó là một đường lối nên sử dụng khi có điều kiện.Căn cứ vào các giai đoạn phát triển của bệnh và với những phương hướng điều trị nói trên, có thể nêu một bảng tổng hợp về xử lí như sau:
    Giai đoạn Cách giải quyết
    Hạch không có loét rò Thuốc hoá học chống lao
    Hạch có nguy cơ vỡ loét Thuốc hoá hoạc. Chọc hút nếu cần
    Hạch loét rò Thuốc hoá học. Can thiệp tại chỗ, lau rửa rắc thuốc, hoặc cắt lọc phẫu thuật.
    Sẹo hạch lao, loét rò cũ Theo dõi. Hoá học dự phòng nếu cần.
    Đông y có khả năng tương đối hạn chế trong điều trị lao hạch. Viện lao và bệnh phổi đã phối hợp với Viện nghiên cứu Y học dân tộc (bác sĩ Nguyễn Lực) sử dụng thuốc nam chữa hơn 50 trường hợp lao hạch người lớn (1986 - 89). Do lượng thuốc uống nhiều mỗi lần và kéo dài, nên việc cộng tác với bệnh nhân thấy khó khăn và kết quả ít.Với quan niệm lao hạch cũng như nhiễm lao là một bệnh toàn thân, việc bồi dưỡng nâng cao thể trạng, giải quyết các căn nguyên, ảnh hưởng đến sức khoẻ chung (sinh hoạt, lao động, thời tiết, môi trường, v.v...) cũng là những điều cần được lưu ý trong quá trình điều trị.Tiên lượng: Diễn biến của lao hạch khá thất thường và lệ thuộc chủ yếu tình trạng đáp ứng miễn dịch của cơ thể.Khi điều trị chu đáo, tỉ lệ khỏi khá cao (80- 90%. Viện lao và bệnh phổi) và kết quả kéo dài trong nhiều năm. Tuy nhiên, việc phụ chồi những hạch đã vôi hoá, xơ hoá là không thể hoàn toàn.Tái phát có thể xảy ra, có khi khá muộn (sau 4 - 5 năm) nếu điều trị không đạt yêu cầu hoặc do suy giảm đề kháng của cơ hể và vì những nguyên nhân tạo thuận lợi. Ở viện lao và bệnh phổi, 2% tái phát xảy ra khá sớm (12 tháng sau ngừng thuốc, theo số liệu của bác sĩ Đỗ Thị Lụa).Dự phòng lao hạch cũng bao gồm những nội dung như đối với bệnh lao.Đối với trẻ em, tiêm BCG một cách gây nhiễm lao “chủ động”, sẽ giúp làm giảm khả năng mắc lao hạch sau sơ nhiễm. Ngoài ra tránh tiếp xúc với nguồn lây, tăng cường dinh dưỡng và loại trừ các căn nguyên khác gây viêm hạch (các nhiễm khuẩn vùng đầu, cổ, răng, họng, tai, v.v...) đều có tác dụng dự phòng.Đối với người lớn,,à ở Việt Nam đa số đã nhiễm vi khuẩn lao, cần chú ý loại trừ các nguyên nhân làm mất thế quân bình vi khuẩn - cơ thể, suy giảm khả năng đề kháng về vật chất (lao động, sinh hoạt) cũng như về tinh thần.
    Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Hường
    Lần sửa cuối bởi songchungvoi_HIV, ngày 02-12-2013 lúc 13:43.

  13. #9
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Câu hỏi :

    Khi điều trị lao hạch cần chú ý những gì?

    Chào bác sĩ,

    Tôi bị lao hạch đang điều trị được hai tháng. Tuy nhiên tôi điều trị ngoại trú và được bác sĩ ở bệnh viện Lao ở tỉnh tư vấn điều trị thuốc ngoại của Đức.

    1. Xin cho tôi hỏi điều trị thuốc nhà nước cấp và thuốc ngoại có gì khác nhau?

    2. Tôi đã ra bệnh viện lấy thuốc hai lần nhưng bác sĩ không khám và xét nghiệm lại cho tôi. Giờ bác sĩ đang cho tôi uống thuốc duy trì. Vậy xin hỏi bác sĩ mỗi khi uống thuốc hết một tháng có cần phải khám lại không?

    3. Tôi nghe thấy có trường hợp đã điều trị lao hạch khỏi rồi nhưng sau đó lại tái phát và không thể chữa được nữa. Điều này có đúng không?

    4. Khi điều trị lao hạch như vậy tôi cần chú ý những gì? Có cần uống thuốc bổ gì không?

    Rất cám ơn BS! (N.V Phương – Hải Dương)


    BS-CK1 Nguyễn Minh Thu:

    Chào bạn,

    Nếu trước đây bạn chưa từng bị lao mà nay bị lao hạch, thì thời gian điều trị bệnh của bạn trung bình sẽ là 8 tháng, với phác đồ điều trị gồm 4 thứ thuốc là: S(Streptomycine) hoặc E (Ethambutol), INH (Isoniazide), R (Rifampicine), vàPZA (Pyrazinamide).Việc trị liệu gồm giai đoạn tấn công kéo dài 2 tháng điều trị bằng S (hoặc E), H, R, PZA. Sau đó chuyển sang giai đoạn củng cố là 6 tháng thường chỉ còn sử dụng 2 loại là INH và E.
    Các thuốc điều trị lao do nhà nước cấp hay thuốc ngoại đều có công dụng như nhau.
    Lao hạch là một thể lao nhẹ, ít nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh và điều trị thường có kết quả khỏi cao (trên 90%). Tuy nhiên rất khó tiên lượng diễn biến của lao hạch. Khoảng 25% trường hợp, hạch tiếp tục to lên hoặc xuất hiện thêm hạch mới mặc dù bệnh nhân vẫn đang được điều trị. Đối với những trường hợp này vẫn nên tiếp tục điều trị cho bệnh nhân. Khoảng 20% trường hợp thì hạch bị nhuyễn hóa và có thể rò mủ.
    Việc theo dõi điều trị lao hạch trong suốt thời gian điều trị thường là khám trực tiếp bệnh nhân. Cụ thể là BS sẽ quan sát và sờ xem kích thước hạch và tiến triển của hạch, đồng thời theo dõi tác dụng phụ của thuốc kháng lao. Việc làm xét nghiệm lại, chỉ đặt ra nếu như nghi ngờ về chẩn đoán khác ngoài lao hay thấy sau 8 tháng điều trị tiến triển bệnh không tốt, nghi ngờ lao kháng đa thuốc (bệnh nhân được sinh thiết hạch và lấy bệnh phẩm cấy làm kháng sinh đồ).
    Trong thời gian điều trị, điều cần thiết là bạn phải ăn đủ chất, ngủ đủ giấc, tuân thủ điều trị tốt, và không quên theo dõi tác dụng phụ của thuốc kháng lao để kịp thời báo cho BS điều trị có hướng xử trí thích hợp.
    Chúc bạn có kết quả trị liệu tốt đẹp. Thân ái!

  14. #10
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Bệnh học lao hạch ngoại biên

    Trước đây theo chu kỳ 3 giai đoạn của Ranke thì lao hạch xuất hiện ở giai đoạn 2. Ngày nay theo chu kỳ 2 giai đoạn thì lao hạch ở giai đoạn 2 – giai đoạn sau sơ nhiễm.Đại cươngLao hạch là một thể lao ngoài phổi còn gặp khá phổ biến ở nước ta. Theo thống kê tại phòng khám Viện Lao – Bệnh phổi trung ương năm 1985: lao hạch ở người lớn chiếm 20% tổng số lao ngoài phổi, ở trẻ em lao hạch chiếm 13% trong các thể lao và đứng thứ ba sau lao sơ nhiễm và lao màng não. Theo số liệu của trung tâm lao thành phố Hà Nội từ năm 1989 – 1990, lao hạch chiếm 83,58% và đứng đầu trong các thể lao ngoài phổi.Trước đây lao hạch chủ yếu gặp ở trẻ em nhưng ngày nay lao hạch cũng hay gặp ở người lớn và gặp ở nữ nhiều gấp 2 lần so với nam.Lao hạch có thể gặp là các hạch ở ngoại biên như hạch cổ, hạch nách, hạch bẹn và các hạch ở nội tạng như hạch trung thất, hạch mạc treo… Trong đó lao hạch ngoại biên là thể lao thường gặp nhất.Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinhNguyên nhân gây bệnhVi khuẩn lao gây bệnh lao hạch là M. tuberculois, M. bovis, M. africannum, trong đó chủ yếu do M. tuberculois. Các trực khuẩn không điểnhình ngày càng được nêu lên là nguyên nhân gây lao hạch, nhất là ở bệnh nhân HIV/AIDS. Các trực khuẩn không điển hình gây lao hạch thường gặp là M. scrofulaceum, M.avium – intracellulare và M. kansasii…Cơ chế bệnh sinhTrước đây theo chu kỳ 3 giai đoạn của Ranke thì lao hạch xuất hiện ở giai đoạn 2. Ngày nay theo chu kỳ 2 giai đoạn thì lao hạch ở giai đoạn 2 – giai đoạn sau sơ nhiễm. Vi khuẩn lao từ tổn thương tiên phát (thường là ở phổi) lan theo đường máu và bạch huyết tới hạch vùng kế cận gây lao hạch.GiảI phẫu bệnhĐại thểHay gặp tổn thương từng nhóm hạch. Tổn thương thường là nhiều hạch, to nhỏ không đều nhau, đường kính trung bình 1 - 2cm. Cũng có thể gặp một hạch lao đơn độc, đường kính 2- 3cm .Giai đoạn đầu các hạch thường rắn chắc, ranh giới rõ và di động dễ. Giai đoạn sau các hạch có thể dính vào nhau thành một mảng hoặc dính vào da và các tổ chức xung quanh làm hạn chế di động. ở giai đoạn muộn hạch bị nhuyễn hoá, mật độ mềm dần và có thể rò chất bã đậu ra ngoài. Vết rò lâu liền để lại sẹo nhăn nhúm, bờ không đều.Vi thểĐiển hình là nang lao với các thành phần sau: ở giữa là vùng hoại tử bã đậu, bao quanh là các tế bào bán liên, tế bào khổng lồ (Langhans) và tế bào lympho, ngoài cùng là lớp tế bào xơ.Lâm sàngTriệu chứng toàn thânTrong lao hạch bệnh nhân thường ít khi có sốt, chỉ có khoảng 25 – 30% bệnh nhân sốt nhẹ về chiều hoặc gai gai rét, sốt không rõ căn nguyên, điều trị bằng kháng sinh thông thường không thấy hết sốt, kèm theo người mệt mỏi, gầy sút cân, ra mồ hôi ban đêm...Vị trí hạch bị laoTrong lao hạch ngoại biên, nhóm hạch ở cổ là hay gặp nhất, chiếm tới 70% các trường hợp lao hạch ngoại biên, trong khi hạch bẹn rất ít khi gặp.Trong nhóm hạch ở cổ, hay gặp nhất là hạch dọc theo cơ ức đòn chũm, sau đó đến hạch thượng đòn, hạch d−ới hàm. Nhiều công trình nghiên cứu về lao hạch cho thấy: lao hạch cổ bên phải gặp nhiều gấp 2 lần so với hạch cổ bên trái và lao hạch ở một bên cổ gặp nhiều gấp 4 lần so với hai bên cổ, tuy vậy cũng có thể gặp lao hạch ở cả hai bên cổ.Nhóm hạch ở cổ hay bị lao là do có sự liên quan đến việc phân bố giữa hệ thống bạch mạch trong cơ thể và bạch mạch ở phổi. Các hệ thống bạch mạch ở trong cơ thể đổ vào hai ống bạch mạch lớn nhất của cơ thể là ống ngực và ốngbạch huyết lớn. ống ngực nhận bạch huyết của 3/4 cơ thể (trừ nửa phải của đầu, cổ, ngực và chi trên ở bên phải) sau đó đổ vào hội lưutĩnh mạch ở bên trái. ống bạch huyết lớn nhận bạch huyết phần còn lại và đổ vào hội lưu tĩnh mạch ở bên phải. Điều này cũng giải thích vì sao lao hạch cổ hay gặp ở nhóm hạch cổ bên phải.Triệu chứng tại chỗ của lao hạchThường là một nhóm hạch bị sưng to. Hạch xuất hiện tự nhiên, người bệnh không rõ hạch to từ lúc nào. Hạch sưng to dần, không đau, mật độ hơi chắc, mặt nhẵn, không nóng, da vùng hạch sưng to không tấy đỏ. Thường có nhiều hạch cùng bị sưng, cái to cái nhỏ không đều nhau tập hợp thành một chuỗi, nếu nhiều nhóm hạch ở cổ bị sưng, sau đó loét rò để lại sẹo nhăn nhúm, trước đây được gọi là bệnh tràng nhạc. Cũng có khi chỉ gặp một hạch đơn độc vùng cổ sưng to, không đau, không nóng, không đỏ.Hạch lao có thể phát triển qua các giai đoạn sau:Giai đoạn đầu hạch bắt đầu sưng to, các hạch to nhỏ không đều nhau, chưa dính vào nhau và chưa dính vào da nên còn dễ di động.Giai đoạn sau các hạch có thể dính vào với nhau thành mảng, hoặc dính vào da và các tổ chức xung quanh làm hạn chế di động.Giai đoạn nhuyễn hoá: các hạch mềm dần, da vùng hạch sưng tấy đỏ, không nóng và không đau. Hạch đã hoá mủ thì dễ vỡ và nếu để tự vỡ gây những lỗ rò lâu liền, miệng lỗ rò tím ngắt và tạo thành sẹo nhăn nhúm.Ở những người nhiễm HIV/AIDS, nếu bị lao hạch thì sẽ có bệnh cảnh lâm sàng hạch to toàn thân kèm theo với các triệu chứng của nhiễm HIV như tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng, nhiễm nấm Candida ở miệng, mụn giộp zona, sarcom Kaposi ở da …Các thể lâm sàngLao hạch bã đậuLà thể lao hạch điển hình, gặp nhiều nhất trong lâm sàng.Thể u hạch laoThường là một hạch lao đơn độc, to, mật độ chắc, không đau, ít khi nhuyễn hoá. Do sự phát triển của tế bào xơ và mô liên kết trong hạch làm cho hạch trở nên xơ cứng. Loại này chẩn đoán khó và dễ nhầm với bệnh lý hạch to do các nguyên nhân khác.Thể viêm nhiều hạchHay gặp ở những bệnh nhân HIV/AIDS với bệnh cảnh viêm nhiều nhóm hạch ở toàn thân, cơ thể gầy sút nhanh, phản ứng Mantoux thường âm tính.Lao hạch phối hợp với lao các bộ phận khácLao hạch có thể phối hợp với lao sơ nhiễm, lao phổi, lao các màng… Ngoài triệu chứng lao hạch, bệnh nhân còn biểu hiện các triệu chứng kèm theo ở những bộ phận khác trong cơ thể bị lao.Cận lâm sàngChọc hút hạch để chẩn đoán tế bào họcĐược coi là xét nghiệm đầu tiên trong chẩn đoán lao hạch ngoại biên. Tất cả những trường hợp hạch ngoại biên to cần phải chọc hút hạch bằng kim nhỏ để làm xét nghiệm tế bào học. Trong các trường hợp lao hạch điển hình, trên tế bào đồ bao giờ cũng gặp các thành phần sau: chất hoại tử bã đậu, tế bào khổng lồ (Langhans) và tế bào bán liên. Chẩn đoán tế bào học lao hạch ngoại biên qua chọc hút kim nhỏ cho kết quả chẩn đoán xác định cao từ 70 – 90%. Ngoài ra có thể tìm vi khuẩn lao trong bệnh phẩm chọc hút hạch bằng phương pháp soi trực tiếp hoặc nuôi cấy. Tỷ lệ tìm thấy BK trong bệnh phẩm chọc hút hạch bằng phương pháp soi trực tiếp thường thấp (17%), nhưng tỷ lệ tìm thấy BK trong bệnh phẩm chọc hút hạch bằng phương pháp nuôi cấy lại cao (tới 40%). Tìm thấy vi khuẩn lao trong bệnh phẩm chọc hút hạch có ý nghĩa quyết định chẩn đoán lao hạch.Sinh thiết hạch để chẩn đoán mô bệnh họcĐây là một xét nghiệm có giá trị quan trọng trong chẩn đoán lao hạch ngoại biên. Xét nghiệm mô bệnh học mảnh sinh thiết hạch có hình ảnh nang lao điển hình (như đã mô tả ở phần giải phẫu bệnh). Qua mảnh sinh thiết có thể tìm BK bằng phương pháp soi trực tiếp hoặc nuôi cấy.Tuy nhiên sinh thiết hạch là một kỹ thuật phức tạp chỉ thực hiện được ở một số bệnh viện, nên kỹ thuật này chỉ nên làm khi chọc hút hạch không cho kết quả chẩn đoán.Phản ứng MantouxTrong lao hạch phản ứng Mantoux thường dương tính mạnh (> 80%), thậm chí có cả phồng nước nơi tiêm. Đây là một dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán lao hạch và là cơ sở để chẩn đoán phân biệt với các bệnh Hodgkin, bệnh sarcoid và ung thư hạch.Tuy nhiên có những trường hợp lao hạch nhưng phản ứng Mantoux âm tính, thường gặp ở bệnh nhân suy dinh dưỡng hoặc suy kiệt, và hiện nay hay gặp ở những trường hợp lao hạch ở bệnh nhân HIV (+).Soi hoặc nuôi cấyTìm vi khuẩn lao bằng phương pháp soi trực tiếp hoặc nuôi cấy qua bệnh phẩm chọc hút hạch hoặc mảnh sinh thiết hạch như đã mô tả ở trên.Ngoài ra ở những trường hợp hạch nhuyễn hoá rò mủ, người ta lấy mủ rò ra đem nuôi cấy tìm vi khuẩn lao, tỷ lệ dương tính cao (62%).Chụp X quang phổiDo lao hạch là lao thứ phát sau lao sơ nhiễm hoặc lao phổi. Vì vậy cần chụp X quang phổi để phát hiện các tổn thương lao sơ nhiễm, lao phổi hoặc lao màng phổi phối hợp.Xét nghiệm máuCông thức máu không phải là xét nghiệm đặc hiệu trong chẩn đoán lao hạch. Trong công thức máu: số lượng hồng cầu bình thường hoặc giảm nhẹ, số lượng bạch cầu không cao và tỷ lệ tế bào lympho tăng, tốc độ máu lắng tăng cao.Xét nghiệm miễn dịch trong chẩn đoán lao hạchCác xét nghiệm hay dùng là phản ứng chuyển dạng lympho bào và phản ứng ức chế di tản đại thực bào để chẩn đoán phân biệt lao hạch với hạch to do các nguyên nhân khác.Chẩn đoánChẩn đoán xác địnhDựa vào các yếu tố sau:Triệu chứng lâm sàng: cần chú ý tới vị trí hạch xuất hiện và diễn biến của hạch, có giá trị gợi ý chẩn đoán.Yếu tố chẩn đoán quyết định là tìm thấy vi khuẩn lao trong bệnh phẩm chọc hút hạch hoặc mảnh sinh thiết hạch. Hoặc các tổn thương đặc hiệu trong chẩn đoán tế bào học hoặc mô bệnh học.Trường hợp không có điều kiện chẩn đoán tế bào học hoặc mô bệnh học, thì cần kết hợp các yếu tố khác như: phản ứng Mantoux, X quang phổi, cùng các yếu tố thuận lợi như: có tiếp xúc với nguồn lây, trẻ chưa được tiêm phòng lao bằng vaccin BCG, đang bị lao ở một bộ phận khác trong cơ thể.Chẩn đoán phân biệtCần chẩn đoán phân biệt hạch lao với các trường hợp hạch to do các bệnh lý khác gây nên:Phản ứng hạch do nhiễm khuẩn vùng tai mũi họng: Cần kiểm tra các ổ nhiễm khuẩn vùng tai mũi họng và phải điều trị kháng sinh để giải quyết nhanh các ổ nhiễm khuẩn. Trường hợp này hạch sẽ thu nhỏ lại rất nhanh khi các nhiễm khuẩn đã được loại bỏ.Viêm hạch do tạp khuẩn: Bệnh tiến triển cấp tính, bệnh nhân sốt cao kèm theo hạch sưng to, đỏ, nóng, đau. Xét nghiệm máu số lượng bạch cầu tăng cao và tỷ lệ bạch cầu đa nhân tăng. Chọc dò hạch có nhiều mủ và đem nuôi cấy mủ có thể tìm thấy vi khuẩn gây bệnh. Bệnh đáp ứng tốt với điều trị bằng kháng sinh.Viêm hạch do virus: Thường do Adenovirus. Bệnh thường diễn biến thành dịch với các biểu hiện lâm sàng: bệnh nhân sốt vừa kèm theo đau mắt đỏ, có nhiều hạch nhỏ, bệnh diễn biến nhanh, không cần điều trị hạch cũng mất. Chọc dò hạch chỉ thấy có tổn thương viêm không đặc hiệu, không thấy có tổn thương lao.Hạch to trong một số bệnh khác:Ung thư hạch tiên phát: Rất ít khi gặp.Hạch di căn ung thư: Ung thư ở phần nào trong cơ thể thì hạch dẫn lưuvùng đó bị di căn trước. Hạch di căn ung thư thường rắn chắc, mặt gồ ghề. Kèm theo bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng ở các bộ phận bị ung thư. Chẩn đoán xác định bằng sinh thiết hạch tìm tế bào ung thư.Hạch to trong bệnh Hodgkin: Hạch to là triệu chứng thường gặp đầu tiên, hay gặp hạch to ở cổ và hố thượng đòn. Có thể có nhiều hạch sưng to nhưng không đau, kèm theo bệnh nhân có sốt, lách to và ngứa ngoài da. Phản ứng Mantoux âm tính. Chẩn đoán xác định bệnh Hodgkin bằng sinh thiết hạch tìm thấy tế bào Sternberg.Hạch to trong bệnh bạch cầu cấp: Bệnh nhân sốt cao, hạch to ở nhiều nơi, kèm theo triệu chứng thiếu máu, xuất huyết, lở loét ở miệng. Chẩn đoán xác định bằng huyết đồ và tuỷ đồ.Điều trịĐiều trị nội khoaĐối với lao hạch, điều trị nội khoa là chủ yếu. Điều trị lao hạch cũng phải tuân theo những nguyên tắc của điều trị bệnh lao nói chung: phối hợp các thuốc chống lao, ít nhất từ 3 thuốc trở lên. Giai đoạn tấn công nên dùng phối hợp 3 đến 4 loại thuốc chống lao, giai đoạn duy trì nên dùng 2 loại thuốc chống lao.Thời gian điều trị lao hạch (kể cả giai đoạn củng cố) nên kéo dài 9 – 12 tháng vì lao hạch hay tái phát. Tuy nhiên do đặc điểm tổn thương tại hạch, thuốc ngấm vào hạch khó nên kết quả điều trị thường không nhanh như các thể lao khác.Trường hợp lao hạch ở bệnh nhân HIV/AIDS: nên dùng phối hợp 4 thuốc chống lao RHZE ở giai đoạn tấn công, sau đó dùng 2 thuốc chống lao ở giai đoạn củng cố. Thời gian điều trị tấn công kéo dài 2 – 3 tháng, tổng thời gian điều trị (kể cả giai đoạn củng cố) kéo dài từ 9 – 12 tháng vì lao hạch ở những bệnh nhân HIV/AIDS rất hay tái phát.Điều trị ngoại khoaTrong lao hạch ngoại biên, điều trị ngoại khoa chỉ đặt ra trong những trường hợp:Hạch sưng tấy đỏ, nhuyễn hoá, hoá mủ và có khả năng vỡ mủ. Nên chủ động trích dẫn lưumủ để tránh vết sẹo xấu. Sau khi trích rạch, nạo hết tổ chức bã đậu và kết hợp điều trị tại chỗ: rắc bột isoniazid hoặc dung dịch rifampicin 1% hàng ngày cho đến khi vết thương khô và liền sẹo. Trường hợp hạch đã rò nhưng mủ chưa ra hết, có thể trích rạch để mở rộng lỗ rò, nạo vét hết mủ và điều trị tại chỗ cũng như điều trị kết hợp các thuốc chống lao như trên.Trường hợp hạch quá to, chèn ép vào tổ chức xung quanh như mạch máu, thần kinh… cần mổ bóc hạch nhưng lưuý không làm tổn thương đến mạch máu và thần kinh.Ngoài ra cần tránh chọc hút hạch vì dễ tạo nên đường rò theo đường kim chọc. Nếu cần thì nên rạch một đường nhỏ cho mủ thoát ra.Vai trò của corticoid trong điều trị lao hạchKhông nên dùng corticoid cho mọi trường hợp lao hạch. Chỉ dùng corticoid trong trường hợp lao nhiều hạch, mục đích làm cho hạch nhỏ lại do tác dụng chống viêm của corticoid. Ngoài ra những trường hợp hạch to, áp xe hoá có khả năng rò mủ, dùng corticoid có thể phòng được rò mủ và làm áp xe nhỏ lại, tránh được can thiệp ngoại khoa. ở trẻ em corticoid thường được dùng với liều 1mg/kg/ngày, ở người lớn dùng với liều 0,6 - 0,8mg/ kg/ngày, dùng trong khoảng 7 – 10 ngày sau đó giảm liều dần mỗi tuần 5mg và dùng trong vòng 4 tuần.Tiến triển và tiên lượngLao hạch là một thể lao nhẹ, ít nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh và điều trị có kết quả khỏi cao trên 90%. Tuy nhiên rất khó tiên lượng diễn biến của lao hạch. Khoảng 25% hạch tiếp tục to lên hoặc xuất hiện thêm hạch mới mặc dù bệnh nhân vẫn đang được điều trị. ở những trường hợp này vẫn nên tiếp tục điều trị cho bệnh nhân. Khoảng 20% hạch bị nhuyễn hoá và có thể rò mủ.Với những trường hợp hạch to nhuyễn hoá và rò mủ, nên điều trị phối hợp các thuốc chống lao với corticoid, kết hợp với trích dẫn lưu mủ.







  15. #11
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    LAO HẠCH

    BS. Quách Minh Phong
    Trung Tâm điều trị bệnh hô hấp PhổiViệt
    Lao hạch gồm lao hạch ngoại biên và lao hạch nội tạng. Nội dung bài này chỉ nói về lao hạch ngoại biên
    Lao hạch ngoại biên là thể lao ngoài phổi thường gặp nhất ở người trẻ tuổi từ 16 – 40, nữ nhiều hơn nam. ( nữ 82,75 nam 17,25%). Những vị trí thường gặp là: cổ (89%), nách (3%), bẹn (2,6%), hoặc nhiều chỗ (5,4%). Thường đi kèm lao phổi hoặc lao cơ quan lân cận.



    Vấn đề gây lo ngại hiện nay là dịch HIV vì đây là một nguyên nhân quan trọng làm tăng số người mắc bệnh lao nói chung trong đó có lao hạch.
    Nguyên nhân gây bệnh lao hạch:
    Lao hạch cũng có thể có triệu chứng nhiễm lao chung như: sốt về chiều, sụt cân… hoặc ngược lại bệnh nhân thấy sức khỏe bình thường. Chỉ tình cờ người nhà, hay bản thân bệnh nhân thấy xuất hiện hạch vùng cổ hoặc ở vị trí khác trên cơ thể nên đi khám bệnh và phát hiện là hạch lao.

    Phát hiện lao hạch:

    1) Vị trí :Hay gặp vùng cổ
    2) Kích thước: thường không đều, lớn dần
    3) Số lượng : thay đổi
    4) Mật độ: chắc nếu có hoại tử thì phập phều
    5) Di động sau có thể dính mô xung quanh
    6) Thường không đau.
    7) Không đối xứng ( Thường chỉ một bên)
    8) Diễn tiến : Không phát hiện kịpthời, điều trị muộn dò bã đậu để lại sẹo rất xấu
    Các xét nghiệm giúp cho chẩn đoán
    Để xác định là hạch lao cần phải tìm được vi trùng lao trong hạch qua soi, cấy bệnh phẩm lấy từ hạch bằng chọc hút hay sinh thiết.
    Các xét nghiệm thường dùng để chẩn đóan lao hạch gồm:
    -Chọc hút bằng kim nhỏ hoặc sinh thiết trọn hạch
    -X quang ngực để phát hiện lao phổi.
    -Soi cấy tìm vi trùng lao từ mủ chảy từ hạch.
    -TST ( Tuberculin Skin Test) trước đây gọi là IDR: Phản ứng lao tố : thường dương tính 74-100% trường hợp.Tuy nhiên khi âm tính không có ý nghĩa để loại trừ lao vì tỉ lệ âm giả cao ở cơ địa suy giảm miễn dịch ( HIV, Đái tháo đường ..)
    Đối bệnh nhân nhiễm HIV: TST > 5 mm: được xem là dương tính
    TST (+) >15mm, nhất là trong lao hạch đơn thuần
    Điều trị lao hạch giống như điều trị lao khác theo hướng dẫn của Chương trình chống lao quốc gia, điều trị đủ 8 tháng bệnh sẽ khỏi.
    Cần phát hiện sớm bệnh để điều trị kịp thời không để lại dị chứng
    Hiện tại các tỉnh, quận, huyện đều có phòng khám chuyên khoa lao. Trung tâm điều trị bệnh hô hấp Phổi Việt cũng là một đơn vị đã được bệnh viện Phạm Ngọc Thạch chấp thuận tham gia với Chương Trình phối hợp y tế công tư, phụ trách khám, phát hiện và điều trị tất cả các thể bệnh lao. Đây là phòng khám ngoài công lập đầu tiên của thành phố phối hợp Chương trình chống lao quốc gia.Tại đây có đủ điều kiện để chẩn đoán, điều trị và theo dõi một ca bệnh lao.

  16. #12
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Nhóm bệnh nhân nguy cơ mắc bệnh lao
    • Đái tháo đường và nguy cơ bệnh lao
      10:56 | 02/05/2013

      Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa có tỷ lệ tăng trong những năm gần đây. Từ lâu người ta quan sát thấy dường như có mối liên hệ giữa bệnh đái tháo đương (ĐTĐ) và bệnh lao ( TB) , tuy nhiên chưa có kết luận chắc chắn là ĐTĐ gây ra bệnh lao hoặc bệnh lao gây nên tình trạng này. Từ những năm 1934, trước khi phát hiện được thuốc điều trị lao, Bác sỹ Howard Root đã nhận thấy ở những người mắc tiểu đường có tỷ lệ mắc bệnh lao cao hơn và nặng hơn so với người bình thường, đặc biệt là những người ĐTĐ trẻ tuổi và những người ĐTĐ không được kiểm soát.


    • Bệnh lao tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi lao động
      12:00 | 12/03/2013

      Trong khoảng 8 triệu bệnh nhân lao mới xuất hiện và 2 triệu người chết mỗi năm vì bệnh này trên thế giới, 75% thuộc lứa tuổi lao động (15-54 tuổi).


    • Bệnh lao hạch ở trẻ em
      11:10 | 11/03/2013

      Bệnh thường gặp ở vùng cổ, xuất hiện nhiều ở trẻ em. Các hạch viêm thông thường (do thương tổn răng, miệng, mũi… ) là nơi vi khuẩn lao dễ dàng xâm nhập, khu trú và dẫn đến lao hạch.


    • Bệnh lao phổi thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm
      10:49 | 11/03/2013

      Người bị bệnh lao phổi là những người có biểu hiện ho khạc kéo dài trên 2 tuần , kèm theo các triệu chứng sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi " trộm" , gầy sút cân, kém ăn...



    TIN KHÁC



  17. #13
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Cơ thể nổi hạch

    PNCN - Hạch có thể nổi ở nhiều vị trí trên cơ thể. Mỗi một loại hạch có tiếng nói riêng mà chỉ bác sĩ (BS) chuyên môn mới có thể “nghe” chính xác.



    Hạch lành tính
    Hạch là một tổ chức lympho, nằm ở nhiều nơi như vùng cổ, vùng dưới hàm, trên xương đòn, khuỷu tay, nách, bẹn… bình thường không sờ thấy. Nhưng khi cơ thể phải làm việc quá sức hoặc viêm nhiễm thì hạch sẽ nổi to. Đã có trường hợp nổi hạch ở bẹn, sau một thời gian làm cho chủ nhân căng thẳng lo lắng thì chúng… tự nhiên biến mất, không hề để lại dấu vết. ThS-BS Lê Đình Vĩnh Phúc - Phòng khám Nhiễm - Trung tâm Chẩn đoán Y khoa (MEDIC) TP.HCM giải thích: “Hạch có nhiệm vụ sản xuất kháng thể để chống lại tác nhân gây bệnh. Hạch ngoại biên “đóng đô” ở bẹn, cổ, nách, bụng… Chúng không biến mất mà chỉ nhỏ lại như cũ sau khi hoàn thành nhiệm vụ!”.

    Hạch ác tính
    Các loại bệnh ung thư như: ung thư máu, ung thư gan, ung thư mật đều có thể tấn công hệ thống hạch.
    Hạch Hodgkin thường gặp ở nam giới nhiều hơn nữ, hạch xuất hiện ở hố thượng đòn trái, rồi lan lên cổ, ít lâu sau hạch nổi cả hai bên, nhưng bên trái vẫn to hơn. Sau đó, hạch nổi ở nách, trung thất. Đặc điểm của hạch là rắn, không đau, không dính vào da, không dính vào nhau. Bệnh nhân sốt từng đợt, mỗi lần sốt thì hạch to thêm hoặc xuất hiện một hạch khác. Nếu không điều trị người bệnh có thể tử vong.
    Hạch còn nổi to do bị bệnh về máu như:
    - Bệnh bạch cầu cấp: Hạch to, mềm, di động, và nổi đồng loạt. Song song là hội chứng thiếu máu, hội chứng chảy máu dưới da, sốt cao. Làm huyết đồ thấy giảm dòng hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu tăng rất nhiều...
    - Bệnh bạch cầu mạn thể lympho: Xuất hiện nhiều hạch nhưng nhỏ. Nhưng chỉ vài tháng là chúng to lên. Làm huyết đồ và tủy đồ, hồng cầu và tiểu cầu giảm, dòng lympho tăng nhiều.
    Theo ThS-BS Lê Đình Vĩnh Phúc, khi cơ thể nổi hạch cần cảnh giác bệnh lý nhiễm trùng, bệnh lý hệ tạo máu, bệnh lý ung thư hay di căn từ cơ quan khác tới. Nhìn, sờ thì không thể xác định hạch thuộc loại “hiền” hay “dữ”. Phương tiện tốt nhất tầm soát hạch là siêu âm doppler hạch. Dựa trên hình ảnh siêu âm, BS sẽ nhận định hạch nghiêng về khả năng lành tính hay ác tính.
    Hạch lao
    Lao hạch gồm có hai thể: thể ngoại biên như hạch cổ, hạch nách, hạch bẹn và thể nội tạng như hạch trung thất (hạch trong lồng ngực), hạch trong ổ bụng... trong đó thể ngoại biên thường gặp hơn. Nguyên nhân gây bệnh lao hạch chủ yếu là do vi khuẩn Mycobacterium Tuberculosis. Tuy nhiên, ngày nay cùng với đại dịch AIDS, các trực khuẩn không điển hình gây lao hạch cũng thường gặp.
    Về thể lao hạch ngoại biên, nhóm hạch cổ thường gặp nhất. Biểu hiện lâm sàng là hạch sưng to dần, xuất hiện tự nhiên, bệnh nhân nhiều khi không biết có từ lúc nào. Lúc đầu hạch sưng không đau, di động, mật độ chắc, sờ không nóng, da hạch không tấy đỏ. Giai đoạn sau, các hạch dính vào nhau và dính vào da cùng các tổ chức xung quanh làm hạn chế di động. Giai đoạn cuối cùng là hạch hoại tử, dò mủ ra ngoài, miệng lỗ dò tím và tạo thành sẹo nhăn nhúm không lành. Trong thể lao hạch nội tạng rất khó nhận biết, triệu chứng rất mơ hồ như thỉnh thoảng ho, đau bụng âm ỉ, ăn uống khó tiêu. Những trường hợp này bệnh nhân cần đi khám chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị.
    Tóm lại, nếu có triệu chứng nổi hạch mà không đáp ứng điều trị thông thường, bệnh nhân nên đi BS chuyên khoa khám để được chẩn đoán và điều trị đúng.
    Phương Nam

  18. #14
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Các thể lao và triệu chứng bệnh lao


    Khi xâm nhập vào cơ thể, vi trùng lao theo đường máu và bạch huyết có thể đến cư trú, phát triển và gây bệnh ở bất kỳ bộ phận nào của cơ thể. Tuỳ theo vị trí bị bệnh, người ta chia bệnh lao thành 2 thể chính là lao phổi và lao ngoài phổi.
    Bác sĩ, Tiến sĩ Phạm Quang Tuệ, Phòng chỉ đạo tuyến Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương cho biết, 80% người bị lao là thể lao phổi, tuy nhiên, 20% còn lại là những thể lao khác nhau và mỗi thể lao đều có những dấu hiệu riêng của nó.
    Những loại lao thường gặp
    Lao ngoài phổi có thể gặp: lao hạch bạch huyết, lao màng phổi, lao màng não, lao màng bụng, lao ruột, lao xương khớp, lao hệ sinh dục - tiết niệu.
    Những người bị bệnh lao ngoài phổi không có nguy cơ truyền bệnh cho người khác.
    Lao phổi: Thể lao hay gặp nhất là lao phổi, chiếm tới 80% các trường hợp mắc bệnh lao. Những người mắc bệnh lao phổi xét nghiệm đờm có vi trùng lao là nguồn lây truyền bệnh cho người sống xung quanh. Người mắc bệnh lao phổi nhưng xét nghiệm đờm không tìm thấy vi trùng lao (do số lượng vi trùng trong ổ tổn thương ít) thì khả năng lây bệnh ít hơn rất nhiều.
    Do vậy, không phải ai mắc bệnh lao phổi cũng có nguy cơ lớn lây truyền bệnh cho người khác, sự lây truyền bệnh còn phụ thuộc vào số lượng vi trùng lao ở người bệnh.
    Triệu chứng của bệnh lao
    Triệu chứng toàn thân: Cho dù bệnh lao có thể chỉ khu trú ở một bộ phận nào đó của cơ thể, gây ra những thể lao khác nhau và mỗi thể lao đều có những triệu trứng riêng, điển hình. Tuy nhiên, ngoài những biểu hiện riêng của từng thể lao, độc tố của vi trùng lao có thể gây nên các triệu chứng toàn thân như: sốt (thường là sốt nhẹ về chiều hoặc đêm), kèm theo là mệt mỏi, kém ăn, gầy sút cân, da xanh, thiếu máu…
    Triệu chứng tại chỗ: Tuỳ theo vị trí hay cơ quan bị bệnh lao mà biểu hiện các triệu chứng tại chỗ khác nhau, ví dụ:
    - Bệnh lao phổi thường có các biểu hiện: Ho khạc kéo dài trên 2 tuần, tức ngực, khó thở, ho ra máu, có đờm…
    - Bệnh lao hạch: Người bị lao hạch thường xuất hiện hạch to dính với nhau thành từng khối chắc nổi rõ trên da, trong đó, có tới 95% bị hạch là lao hạch cổ. Khi ấn vào những khối hạch này bệnh nhân không thấy bị đau. Đây là lý do khiến người bệnh chủ quan, không nghĩ đến nguy cơ bị mắc bệnh lao hạch.
    - Bệnh lao lao xương khớp: Triệu chứng điển hình là đau tại chỗ bị bệnh, hạn chế vận động, nếu bệnh diễn biến lâu ngày không điều trị có thể gây rò mủ tại chỗ, nếu bị lao cột sống có thể gây gù, vẹo cột sống, liệt vận động…
    - Bệnh lao màng não: Có các biểu hiện dấu hiệu thần kinh như: đau đầu, nôn, táo bón, nặng có thể hôn mê, co giật…


  19. #15
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Những triệu chứng của bệnh lao

    QĐND - 25/10/2013 21:11
    QĐND - Theo các bác sĩ Bệnh viện Phổi Trung ương, cho dù bệnh lao có thể chỉ khu trú ở một bộ phận nào đó của cơ thể, gây ra những thể lao khác nhau và mỗi thể lao đều có những triệu chứng riêng, điển hình. Tuy nhiên, ngoài những biểu hiện riêng của từng thể lao, độc tố của vi trùng lao có thể gây nên các triệu chứng toàn thân như: Sốt (thường là sốt nhẹ về chiều hoặc đêm), kèm theo là mệt mỏi, kém ăn, gầy sút cân, da xanh, thiếu máu… Đối với triệu chứng tại chỗ thì tùy theo vị trí hay cơ quan bị bệnh lao mà biểu hiện các triệu chứng tại chỗ khác nhau, ví dụ: Bệnh lao phổi thường có các biểu hiện ho khạc kéo dài trên 2 tuần, tức ngực, khó thở, ho ra máu, có đờm… Còn bệnh lao hạch thì người bệnh thường xuất hiện hạch to dính với nhau thành từng khối chắc nổi rõ trên da, trong đó, có tới 95% bị hạch là lao hạch cổ. Khi ấn vào những khối hạch này, bệnh nhân không thấy bị đau. Đây là lý do khiến người bệnh chủ quan, không nghĩ đến nguy cơ bị mắc bệnh lao hạch.

    QĐND - Theo các bác sĩ Bệnh viện Phổi Trung ương, cho dù bệnh lao có thể chỉ khu trú ở một bộ phận nào đó của cơ thể, gây ra những thể lao khác nhau và mỗi thể lao đều có những triệu chứng riêng, điển hình. Tuy nhiên, ngoài những biểu hiện riêng của từng thể lao, độc tố của vi trùng lao có thể gây nên các triệu chứng toàn thân như: Sốt (thường là sốt nhẹ về chiều hoặc đêm), kèm theo là mệt mỏi, kém ăn, gầy sút cân, da xanh, thiếu máu… Đối với triệu chứng tại chỗ thì tùy theo vị trí hay cơ quan bị bệnh lao mà biểu hiện các triệu chứng tại chỗ khác nhau, ví dụ: Bệnh lao phổi thường có các biểu hiện ho khạc kéo dài trên 2 tuần, tức ngực, khó thở, ho ra máu, có đờm… Còn bệnh lao hạch thì người bệnh thường xuất hiện hạch to dính với nhau thành từng khối chắc nổi rõ trên da, trong đó, có tới 95% bị hạch là lao hạch cổ. Khi ấn vào những khối hạch này, bệnh nhân không thấy bị đau. Đây là lý do khiến người bệnh chủ quan, không nghĩ đến nguy cơ bị mắc bệnh lao hạch.
    Đối với những bệnh nhân lao xương khớp thì triệu chứng điển hình là đau tại chỗ bị bệnh, hạn chế vận động, nếu bệnh diễn biến lâu ngày không điều trị có thể gây rò mủ tại chỗ, nếu bị lao cột sống có thể gây gù, vẹo cột sống, liệt vận động… Còn với bệnh lao màng não thường có các biểu hiện dấu hiệu thần kinh như: Đau đầu, nôn, táo bón, nặng có thể hôn mê, co giật…
    LÂM DUY


  20. #16
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Bệnh học lao màng phổi

    Khi dịch màng phổi còn ít bệnh nhân thường nằm nghiêng về bên lành, khi dịch nhiều hơn bệnh nhân phải nằm nghiêng về bên bệnh hoặc dựa vào tường để đỡ khó thở.Đại cươngLà thể bệnh gặp phổ biến trên lâm sàng. Đứng hàng đầu trong các thể lao ngoài phổi.Thường thứ phát sau lao phổi.Theo các tác giả trên thế giới và Việt Nam tỷ lệ lao màng phổi trong các thể lao ngoài phổi là 25 - 27%.Gặp ở các độ tuổi, với thiếu niên và người trẻ tuổi gặp nhiều hơn.Thể lâm sàng hay gặp của lao màng phổi là tràn dịch thanh tơ, tự do, màu vàng chanh.Tiên lượng lâm sàng tốt, tuy nhiên vẫn gặp những biến chứng nặng nề như: Viêm mủ màng phổi, tràn dịch kết hợp với tràn khí màng phổi, dày dính nhiều ở màng phổi, ổ cặn màng phổi nếu chẩn đoán bệnh muộn và điều trị không đúng.Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinhNguyên nhânHay gặp là vi khuẩn lao người. Vi khuẩn lao bò và vi khuẩn lao không điển hình ít gặp.Cơ chế bệnh sinh
    Đường lan tràn của vi khuẩn
    Đường máu và bạch máu là đường lan tràn chính của vi khuẩn lao từ những tổn thương tiên phát đến màng phổi.Đường tiếp cận: Tổn thương lao ở nhu mô phổi gần màng phổi. Tiến triển xâm nhập vào màng phổi.
    Điều kiện thuận lợi
    Trẻ em không được tiêm vaccin phòng lao BCG.Trẻ bị lao sơ nhiễm nhưng được phát hiện muộn, điều trị không đúng.Những người tiếp xúc thường xuyên, trực tiếp với bệnh nhân lao phổi (xét nghiệm đờm trực tiếp: AFB dương tính).Nhiễm lạnh đột ngột.Chấn thương lồng ngực.Các bệnh toàn thân gây suy giảm miễn dịch của cơ thể: Đái tháo đường, cắt dạ dày, nhiễm HIV, phụ nữ thời kỳ thai nghén và sau đẻ…Giải phẫu bệnhĐại thểGiai đoạn đầu: Màng phổi phù nề, xung huyết, xuất hiện dịch vàng chanh. Có thể gặp dịch hồng, đục.Giai đoạn sau: Màng phổi dầy lên, thô ráp, có thể thấy những hạt lao, cục lao nhuyễn hóa bã đậu. Nhu mô d−ới màng phổi xẹp lại.Giai đoạn muộn: Dịch màng phổi giảm hoặc hết, lá thành, là tạng dày lên, dính vào nhau hoặc dính vào trung thất, cơ hoành. Có thể thấy những dải xơ chia khoang màng phổi thành những khoang riêng biệt.Vi thểGiai đoạn đầu: Lớp tế bào nội mô màng phổi bị phá hủy, chất sợi tơ huyết (fibrin) lắng đọng lên bề mặt màng phổi, làm màng phổi tổn thương bị dầy lên.Giai đoạn sau: Xuất hiện tổn thương xơ.Giai đoạn cuối: Tổ chức xơ chiếm ưu thế ở màng phổi.Lâm sàngThể điển hình - lao màng phổi tràn dịch tự do màu vàng chanh.Giai đoạn khởi phát
    Diễn biến cấp tính:
    Khoảng 50% các trường hợp có biểu hiện cấp tính. Đau ngực đột ngột, dữ dội.Sốt cao 39 0C – 40 0C. Ho khan.Khó thở.
    Diễn biến từ từ:
    Khoảng 30% các trường hợp với các dấu hiệu: đau ngực liên tục, sốt nhẹ về chiều và tối,ho khan, khó thở tăng dần.
    Diễn biến tiềm tàng:
    Dấu hiệu lâm sàng nghèo nàn, kín đáo. Thường bị bỏ qua hoặc phát hiện tình cờ qua kiểm tra X quang phổi.Một số ít bệnh nhân có diễn biến rất trầm trọng giống bệnh cảnh của thương hàn.Giai đoạn toàn phát
    Dấu hiệu toàn thân:
    Bệnh nhân xanh xao, mệt mỏi, gầy sút, sốt liên tục, nhiệt độ giao động 38oC – 400C, mạch nhanh, huyết áp hạ, buồn nôn, nôn, lượng nước tiểu ít.
    Dấu hiệu cơ năng:
    Ho khan từng cơn, cơn ho xuất hiện đột ngột khi thay đổi tư thế. Đau ngực: giảm hơn so với thời kỳ khởi phát.Khó thở thường xuyên, cả hai thì, tăng dần.Khi dịch màng phổi còn ít bệnh nhân thường nằm nghiêng về bên lành, khi dịch nhiều hơn bệnh nhân phải nằm nghiêng về bên bệnh hoặc dựa vào tường để đỡ khó thở.
    Dấu hiệu thực thể:
    Điển hình nhất khi có tràn dịch trong khoang màng phổi là hội chứng 3 giảm:Nhìn: Lồng ngực bên tràn dịch vồng lên, di động lồng ngực giảm hơn so với bên lành, khe gian sườn giãn rộng.Sờ: Rung thanh giảm.Gõ: đục, có thể xác định được giới hạn trên của vùng đục nếu tràn dịch vừa, đó làđường cong Hypebol có điểm thấp nhất sát cột sống, điểm cao nhất ở vùng nách còn gọi là đường cong Damoiseau.Phía trên vùng đục, dưới xương đòn khi gõ tiếng quá vang còn gọi là tiếng vang đỉnh phổi.Tràn dịch nhiều: Gõ đục toàn bộ nửa lồng ngực. Tràn dịch nhiều ở bên trái, tim bị đẩy sang bên phải, khoang Traubes gõ đục.Nghe:Rì rào phế nang giảm hoặc mất hẳn.Có thể thấy tiếng cọ màng phổi, tiếng thổi màng phổi.Nếu nghe thấy ran nổ, ran ẩm là có tổn thương ở nhu mô phổi (thường lao phổi).Một số thể lâm sàng ít gặpLao màng phổi tràn dịch khu trúDấu hiệu lâm sàng thường kín đáo và khó chẩn đoán; Tràn dịch có thể khu trú ở:Vùng rãnh liên thùy. Vùng nách.Trung thất.Trên cơ hoành.Lao màng phổi thể khôNghe thấy tiếng cọ màng phổi.Tràn dịch phối hợp tràn khí màng phổi do laoThăm khám thấy hội chứng tràn dịch ở phía d−ới và hội chứng tràn khí ở phía trên (rung thanh mất, rì rào phế nang mất, gõ vang ở phía trên).Lao màng phổi có lao phổi hoặc lao ở các cơ quan khácNgoài những dấu hiệu của tràn dịch màng phổi còn thấy những dấu hiệu của tổn thương nhu mô phổi: ran ẩm, ran nổ, tiếng thổi hang: bệnh nhân ho khạc đờm hoặc ho ra máu.Lao màng phổi trong bệnh cảnh lao đa màngThường có lao màng phổi phối hợp với lao ở nhiều màng khác: màng bụng, màng tim… Cận lâm sàngXét nghiệm chẩn đoán hình ảnhKỹ thuật siêu âm màng phổi, chiếu X quang có giá trị xác định được có dịch màng phổi. Thông thường chụp X quang phổi (thẳng, nghiêng).Tràn dịch màng phổi ít: Đám mờ đều vùng đáy phổi, làm mất góc sườn hoành (số lượng dịch khoảng 0,5 lít).Tràn dịch trung bình: Đám mờ đậm, đều chiếm một nửa hoặc 2/3 trường phổi, lượng dịch khoảng 1-2 lít, trung thất bị đẩy sang bên đối diện. Có thể thấy giới hạn trên của vùng mờ là một đường cong mặt lõm hướng lên trên (Damoisseau).Tràn dịch nhiều: Mờ đều, đậm toàn bộ trường phổi, trung thất bị đẩy sang bên đối diện, khe gian sườn giãn rộng, cơ hoành bị đẩy xuống thấp, số lượng dịch trên 2 lít.Tràn dịch khu trú: Tùy theo vị trí tràn dịch có những vùng mờ tương ứng: Tràn dịch rãnh liên thùy: Đám mờ đều hình thoi nằm tương ứng rãnh liên thùy.Tràn dịch màng phổi nách: Trên phim thẳng thấy đám mờ đều, giới hạn rõ nằm tiếp giáp ở lồng ngực phía ngoài.Tràn dịch vùng trung thất: Bóng trung thất rộng không đối xứng.Tràn dịch kết hợp tràn khí màng phổi: Phía dưới là vùng tràn dịch mờ đậm đều, phía trên là vùng tràn khí quá sáng thuần nhất, ranh giới giữa hai vùng là một đường nằm ngang.Chọc hút dịch và xét nghiệm dịch màng phổi
    Tính chất chung
    Dịch vàng chanh, dính, có thể đông lại sau khi được hút ra khỏi khoang màng phổi (do có nhiều albumin).Dịch có thể màu hồng hoặc đục.
    Sinh hóa Albumin: Trên 30 g/lít.Phản ứng Rivalta dương tính. Fibrin trên 6g/lít.Men LDH dịch màng phổi tăng.Glucose trong dịch màng phổi thấp hơn glucose trong máu.
    Tế bào Nhiều bạch cầu lympho, tỷ lệ bạch cầu lympho tăng dần, có thể tới 90 - 100%.Có thể thấy một số bạch cầu đa nhân, hồng cầu, tế nào nội mô màng phổi.
    Vi khuẩn Soi trực tiếp khó thấy vi khuẩn lao.Soi thuần nhất dịch màng phổi tỷ lệ AFB dương tính thấp, 5-10%.Nuôi cấy dịch màng phổi tìm vi khuẩn lao: Theo một số tác giả Việt Nam thấy tỷ lệ dương tính khoảng 13%, theo tác giả nước ngoài tỷ lệ dương tính khoảng 25%.
    Các kỹ thuật xét nghiệm mới
    Tìm kháng thể kháng lao trong dịch màng phổi bằng kỹ thuật ELISA; Tìm vi khuẩn lao bằng kỹ thuật PCR có thể được chỉ định cho những bệnh nhân khó và ở nơi có điều kiện tiến hành.Phản ứng MantouxThường dương tính mạnh.Sinh thiết màng phổi Qua soi màng phổi hoặc sinh thiết mù để lấy mẫu làm xét nghiệm giải phẫu bệnh tìm tổn thương lao đặc hiệu.Xét nghiệm máuSố lượng bạch cầu bình thường hoặc tăng ít, tỷ lệ bạch cầu lympho cao, tốc độ lắng máu tăng.Một số xét nghiệm khácPhản ứng ELISA dịch màng phổi, chụp cắt lớp phổi, màng phổi . . .Chẩn đoánChẩn đoán xác định tràn dịch màng phổi do laoTrong đa số các trường hợp cần chú ý các đặc điểm về lâm sàng: bệnh nhân có tràn dịch màng phổi kèm thêm biểu hiện có tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc mạn tính. Đặc biệt là xuất hiện ở những người đang có sẵn các điều kiện huận lợi: đang mắc lao tiên phát ở các bộ phận khác, có tiếp xúc với nguồn lây lao... Xét nghiệm dịch màng phổi với những tính chất hay gặp: màu vàng chanh, dịch tiết Albumin tăng cao, Rivalta (+), có nhiều tế bào lympho, phản ứng Mantoux dương tính mạnh... Thường là các yếu tố cùng với lâm sàng quyết định chẩn đoán. Các yếu tố có giá trị khẳng định chẩn đoán cao: tìm kháng thể kháng lao bằng kỹ thuật ELISA, tìm vi khuẩn lao bằng kỹ thuật PCR trong dịch màng phổi, soi màng phổi và sinh thiết màng phổi, chụp cắt lớp vi tính... thực tế được áp dụng và thường được ưu tiên chỉ định cho các trường hợp khó.Chẩn đoán phân biệt
    Tràn dịch màng phổi do ung thư
    Tuổi bệnh nhân thường trên 50 tuổi.Dịch màu hồng, đỏ (dịch máu) tỷ lệ 90%.Có thể lúc đầu tràn dịch màu vàng chanh, nhưng sau chuyển sang tràn dịch máu.Dịch tái phát nhanh, men LDH trong dịch màng phổi tăng cao trên 500 đơn vị.Tìm thấy tế bào ác tính trong dịch màng phổi: tỷ lệ dương tính 40-60%.Sinh thiết màng phổi.Sau khi hút dịch, bơm hơi màng phổi chụp X quang. Siêu âm màng phổi.Chụp cắt lớp màng phổi.
    Tràn dịch màng phổi do tạp khuẩn (TDMP mủ)
    Hội chứng nhiễm khuẩn cấp tính.Dịch màng phổi đục hoặc dịch mủ.Xét nghiệm dịch màng phổi: Nhiều bạch cầu đa nhân thoái hóa (tế bào mủ).Soi tươi, nuôi cấy dịch màng phổi tìm được vi khuẩn gây bệnh.
    Tràn dịch màng phổi do virus
    Thường là tràn dịch ít. Dịch trong.Dịch hấp thu nhanh.Xét nghiệm dịch màng phổi: Nhiều bạch cầu lympho.
    Tràn dịch màng phổi do một số nguyên nhân khác
    Tại phổi:Viêm phổi cấp tính.Nhồi máu phổi.Bệnh B.B.S ( Besnier- Boeck- Chaumann).Ngoài phổi:Suy tim.Xơ gan cổ trướng.Hội chứng thận hư.Hội chứng Demons Meigs: U nang buồng trứng phối hợp tràn dịch màng phổi tự do. Cắt bỏ u nang thì tràn dịch màng phổi hết.Diễn biến Diễn biến tốtBệnh nhân tràn dịch màng phổi lao đơn thuần, phát hiện sớm, điều trị kịp thời thường diễn biến tốt, dịch màng phổi giảm dần và hết sau vài tuần điều trị.Diễn biến xấuNhững bệnh nhân lớn tuổi, suy kiệt, suy giảm miễn dịch, lao màng phổi kết hợp lao phổi mạn tính thường có những biểu hiện xấu.Tràn dịch màng phổi kết hợp tràn khí màng phổi.Tràn dịch màng phổi lao bội nhiễm trở thành tràn dịch màng phổi mủ. Ổ cặn màng phổi.Dò khoang màng phổi ra thành ngực. Lao đa màng.Điều trị Điều trị nguyên nhân Dùng thuốc chống lao là quan trọng. Các trường hợp nhẹ ở người lớn thường dùng công thức 2SRHZ/ 6HE; Trẻ em dùng 2RHZ/ 4RH. Các trường hợp nặng: bệnh phát hiện muộn, có phối hợp với lao ở các nơi khác…Người lớn dùng công thức 2SRHZE/ 1RHZE/ 5R3H3E3. Trẻ em dùng 2RHZ(S/E)/ 4RH. Hút dịch màng phổi Hút dịch cần phải hút sớm và hút hết. Để hạn chế các tai biến khi hút dịch (sốc, tràn khí, chảy máu, bội nhiễm …) cần tuân thủ theo nguyên tắc hút dẫn l−u dịch màng phổi kín, vô trùng và không hút quá nhiều, quá nhanh.Chống dầy dính màng phổi Dùng corticoid ngay từ đầu: thời gian dùng 6-8 tuần lễ, liều lượng 0,6 - 0,8 mg/cân nặng/24 giờ, giảm liều dần trước khi ngừng điều trị. Bệnh nhân tập thở sớmKhi hết dịch bằng phương pháp thở hoành… Điều trị kết hợp ngoại khoaKhi có biến chứng ổ cặn màng phổi; Bội nhiễm gây rò mủ màng phổi…Ngoài điều nội khoa tích cực cần kết hợp với: Mở màng phổi tối thiểu, mở màng phổi tối đa; Phẫu thuật bóc tách màng phổi; Rửa màng phổi kết hợp với điều trị kháng sinh tại chỗ.



    Lần sửa cuối bởi songchungvoi_HIV, ngày 04-01-2014 lúc 08:49.

  21. #17
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Lao màng bụng
    ĐẠI CƯƠNG
    Lao màng bụng là tổn thương viêm đặc hiệu của màng bụng do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây ra. Bệnh có thể gặp ở cả hai giới, mọi lứa tuổi, ở nũ nhiều hơn nam, gặp nhiều hơn ở tuổi trung niên. Bệnh có thể diễn biến cấp tính, bán cấp, hay mạn tính. Lao màng bụng mạn tính có 3 thể lâm sàng diễn biến tự nhiên từ nhẹ đến nặng là thể cổ chướng, thể bã đậu hóa, thể xơ dính .

    LÂM SÀNG
    1. Thể cổ trướng
    a. Cơ năng toàn thể
    - Sốt: thường sốt về chiều, có thể sốt cao 39 - 40oC hoặc sốt nhẹ từ 37,5 - 38oC, thậm chí có bệnh nhân không nhận ra là có sốt.
    - Ăn uống kém, chán ăn, đầy bụng, khó tiêu
    - Mệt mỏi, gầy sút
    - Đau bụng âm ỉ, vị trí đau không rõ ràng
    - Ra mồ hôi trộm
    - Đi ngoài có khi phân lỏng, có khi phân táo
    b. Thăm khám:
    - Có thể có hạch mềm, di động, không đau ở dọc cơ ức đòn chũm (nếu có hạch thì cần phải kiểm tra xem có lao hạch phối hợp không).
    - Khám bụng phát hiện có cổ trướng. Thường cổ trướng mức độ vừa, không có tuần hoàn bàng hệ. Sờ nắn không thấy gan to, lách to, nhưng có thể thấy những mảng chắc, rải rác khắp bụng.
    - Khám các bộ phận khác để tìm tổn thương lao phối hợp:
    . Có thể có tràn dịch phế mạc.
    . Có thể có tràn dịch màng tim, có trường hợp bị dầy màng ngoài tim (sau hết dịch).
    2. Thể bã đậu hoá:- Có các triệu chứng tương tự như thể cổ trướng nhưng:
    + Bệnh nhân thường sốt nhẹ về chiều hoặc không sốt.
    + Triệu chứng rối loạn tiêu hoá rầm rộ hơn: thường đau bụng, chướng hơi, sôi bụng, đi ngoài phân lỏng, màu vàng.
    - Thăm khám bụng:
    + Sờ: thấy có vùng cứng xen kẽ vùng mềm, ấn tay vào vùng cứng có thể nghe thấy tiếng lọc sọc của hơi di động trong ruột.
    + Gõ có vùng đục xen lẫn với vùng trong tuỳ theo vị trí dính của phúc mạc và tạng trong ổ bụng.
    Ở thể này, đôi khi có vùng dính cứng lớn ở các vị trí đặc biệt như hạ sườn phải, vùng hạ vị thì dễ nhầm với gan to hoặc khối u trong ổ bụng.
    3. Thể xơ dínhRất hiếm gặp thể xơ dính: thường xơ dính toàn bộ phúc mạc với các tạng trong ổ bụng.
    Thể này thường diễn biến nặng, dễ dẫn đến tử vong
    Trên lâm sàng có những biểu hiện:
    - Cơ năng:
    + Triệu chứng bán tắc ruột: bụng chướng đau, trung tiện được thì đỡ đau.
    + Triệu chứng tắc ruột: đau bụng, chướng hơi, bí trung đại tiện.
    - Thực thể: thăm khám bụng thấy bụng cứng, lõm lòng thuyền, khi sờ khó xác định được các tạng trong ổ bụng, chỉ thấy các khối cứng, dài, nằm ngang như những sợi thừng (do mạc nối lớn xơ cứng lại).
    CẬN LÂM SÀNG
    1. Xét nghiệm máu
    - Hồng cầu giảm
    - Bạch cầu tăng (lymphocyte tăng cao)
    - Tốc độ máu lắng tăng nhiều
    2. Phản ứng mantoux
    Mantoux (+). Tuy nhiên nếu Mantoux âm tính thì vẫn không được loại trừ bệnh lao. Phản ứng này ít giá trị chẩn đoán lao ở người lớn.
    3. X quang Chụp phổi có thể thấy hình ảnh tổn thương lao

    4. Xét nghiệm dịch cổ trướng (nếu có)
    + Dịch cổ chướng màu vàng chanh, có thể có màu hồng đục+ Phản ứng Rivalta (+)
    + Lượng protein trong dịch cổ trướng: trên 25g/l.

    + Chênh lệch giữa hàm lượng Albumin máu và dịch cổ chướng nhỏ hơn 11g
    + Tế bào lympho chiếm đa số trên 50%.
    + Có thể tìm thấy vi khuẩn lao trong dịch cổ trướng: bằng nhuộm soi trực tiếp qua kính hiển vi( nhưng khả năng tìm thấy VK là thấp), bằng nuôi cấy ở môi trường truyền thống Loevinstein , nuôi cấy MGIT ( Mycrobacterium Growth Indicator Tube) cho kết quả nhanh hơn sau 3 tuần , bằng phản ứng PCR ( Polymerase Chain Reaction) khuếch đại số lượng vi khuẩn lao. Tuy nhiên độ nhạy của phản ứng PCR là không cao và có thể có dương tính giả.

    5. Soi ổ bụng
    Có chỉ định với thể cổ trướng. Đối với thể bã đậu hoá cần thận trọng khi soi, tránh chọc vào các vùng dính, vì dễ chọc vào các tạng trong ổ bụng.
    Khi soi ổ bụng có thể thấy:

    + Phúc mạc thành và tạng viêm xung huyết đỏ
    + Các hạt lao ở phúc mạc, ở thanh mạc của ruột, ở mạc nối, các hạt này có kích thước như đầu đinh ghim,màu trắng đục hoặc vàng đục, rải rác hoặc tụ lại thành đám .
    + Có thể thấy các sợi viêm fibrin dính như tơ nhện, dính các quai ruột hay mạc nối với phúc mạc thành bụng.
    6. Sinh thiết màng bụngSinh thiết màng bụng, mạc nối qua soi ổ bụng tại vị trí các hạt lao. Khả năng tìm được vi khuẩn lao hay nang lao điển hình qua mảnh sinh thiết màng bụng là rất cao.

    Dùng bệnh phẩm này :
    +Nhuộm soi trực tiếp qua kính hiển vi tìm vi khuẩn lao, nang lao điển hình. Nang lao điển hình hình tròn, màu xám, kích thước khoảng 1 mm,có cấu trúc 3 vùng: Vùng trung tâm là chất hoại tử bã đậu màu pho mát trắng do tế bào miễn dịch của cơ thể và mô lành bị bị vị khuẩn lao phá hủy, vi khuẩn lao thể hoạt động , và tế bào khổng lồ Langhans. Vùng thứ hai là lớp tế bào bán liên xếp lộn xộn hay thành những vòng tròn hướng tâm. Vùng ngoại vi ngoài cùng thứ ba là lớp tế bào lymphô, tế bào xơ, sợi xơ.
    +Làm phản ứng PCR
    +Nuôi cấy ở môi trường truyền thống Loevinstein, hoăc nếu có điều kiện nuôi cấy MGIT
    CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
    Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán khẳng định lao màng bụng là khi chứng minh được sự hiện diện của vi khuẩn lao hay nang lao điển hình trong dịch màng bụng hay mẫu sinh thiết từ màng bụng

    CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
    1.Lao màng bụng thể cấp tính với các tình trạng bụng ngoaị khoa: dò mật, tắc ruột, viêm ruột thừa
    2.Lao màng bụng thể mạn tính thể cổ chướng với các bênh gây cổ chướng khác:
    + Cổ chướng do tăng áp lực tĩnh mạch cửa,xơ gan.
    + Cổ chướng do bệnh tim
    +Cổ chướng do bệnh tụy
    + Cổ chướng do bệnh buồng trứng: ung thư buồng trứng,hội chứng Demons Meigs (cổ trướng, tràn dịch màng phổi,u nang buồng trứng)
    + Cổ chướng do bệnh nội mạc tử cung
    +Cổ chướng dưỡng chấp
    + Cổ chướng do phù niêm
    +Cổ chướng do hội chứng suy giảm miễn dịch
    + cổ chướng do ung thư màng bụng tiên phát hay thứ phát
    +Cổ chướng do các nhiễm trùng màng bụng khác ngoài lao: Nhiễm Chlamydia, nhiễm nấm
    +Cổ chướng do các bệnh gây viêm màng bụng khác ngoài lao: Sarcoidosis,Lupusban đỏ hệ thống, viêm đa mạch dạng nốt
    + cổ chướng kết hợp: vừa do lao, vừa do một nguyên nhân khác
    3.Lao màng bụng thể bá đậu hóa với các khối hạch hay ung thư gây dính trong ổ bụng
    ĐIỀU TRỊ:

    1. Điều trị đặc hiệu với vi khuẩn lao:

    +Chỉ bắt đầu điều trị sau khi đã làm các xét nghiệm tìm kiếm vi khuẩn lao và nang lao
    + Điều trị đủ thời gian. Phác đồ phổ biến nhất hiện nay là ít nhất 6 tháng liên tục. Thường sau 6 tháng điều trị có thể khỏi bệnh. Có thể phải điều trị đến 9 tháng.
    +Điều trị tấn công trong 2 tháng đầu, điều trị củng cố trong 4 tháng sau
    +Trong giai đoạn tấn công dùng ít nhất 3 loại thuốc chống lao : Rifampicine 5 mg/kg/ngày. Isoniazide 10mg/kg/ngày. Pyrazinamide 20mg/kg/ngày. Có thể kết hợp thêm Ethambutol 15mg/kg/ngày.
    +Trong giai đoạn củng cố dùng rút xuống còn 2 loại thuốc là Rifampicine và Isoniazide với liều như trên
    +Uống tất cả thuốc vào một lần duy nhất, buổi sáng, lúc đói, trước ăn sáng 30 phút

    1. Đánh giá trước điều trị:

    + Chức năng gan toàn bộ, có thể bao gồm huyết thanhchẩn đoán vi rút viêm gan B,C
    + Công thức máu, máu lắng
    +Chức năng thận
    + Hàm lượng acid uríc máu
    + Nếu dùng Ethambutol: kiểm tra mắt ( soi đáy mắt, đánh giá truờng nhìn và khả năng nhận biết các máu sắc)
    + Huyết thanh chẩn đóan với HIV ( sau khi được sự đồng ý của bệnh nhân)

    1. Theo dõi điều trị:

    +Theo dõi hiệu quả điều trị:Sự thuyên giảm của sốt, cảm giác mệt mỏi, ăn uống đuợc trở lại,lên cân. Công thức máu thấy số lưọng bạch cầu và bạch cầu lympho giảm. Tốc độ máu lắng giảm. lượng dịch cổ chướng giảm( siêu âm thăm dò cổ chướng chính xác nhất, nhạy hơn chụp cắt lớp và cộng hưởng từ). Khi có triệu chứng ở phổi XQ tim phổi vào ngày thứ 15 và 30 của tháng thứ 1, sau đó 1 lần vào các tháng 2,4,6.
    +Theo dõi tác dụng phụ: Định lượng transminases vào ngày thứ 4, 8,15,30 của tháng đầu tiên. Sau đó một lần vào mỗi tháng 2, 4 và 6. Khi điều trị Ethambutol khám mắt vào ngày thứ 15 và 30 của tháng thứ 1, và khám 1 lần vào tháng thứ 2.

    1. Điều trị phối hợp:

    + Có thể dung Corticoid liều thấp để chống dính
    +Ngừng làm việc tùy theo tình trạng lâm sàng, trung bình là 2 tháng
    + Nâng cao thể trạng bằng đạm và vitamin
    +Điều trị triệu chứng các rối loạn tiêu hóa cơ năng đi kèm
    PHÒNG BỆNH:
    + Khai báo người mắc bệnh với trung tâm điều trị lao
    + Cách ly bệnh nhân đang bị bênh lao có khả năng lây nhiễm: VD lao màng bụng có kèm lao phổi đang có BK trong đờm, đeo khẩu trang khi tiếp xúc bệnh nhân. Vào ngày thứ 15 thể kiểm tra lại BK đờm để xét bỏ cách ly.
    +Tìm kiếm những cá thể có tiếp xúc, kiểm tra họ và khi thấy có nguy cơ tiến hành uống thuốc phòng.

  22. #18
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN LAO MÀNG BỤNG

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ - Lao là một bệnh nhiễm được phát hiện từ rất lâu trên thế giới. - Năm 1985, bệnh lao lại gia tăng trở lại liên quan đến sự bùng phát đại dịch nhiễm HIV /AISD. - Theo Tổ chức y tế thế giới năm 2000, có hơn 10,2 triệu người mắc bệnh và 3,5 triệu người chết vì bệnh lao. - Năm 2009, ước tính số người mắc lao mới 9.4 triệu người trong đó, lao ổ bụng cũng gia tăng, chiếm khoảng 11%. - Việt Nam là một trong 22 nước có bệnh lao trầm trọng trên thế giới. - Lao màng bụng không có triệu chứng lâm sàng đặc hiệu. - Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán lao màng bụng là phải xác định có sự hiện diện của trực khuẩn lao trong dịch màng bụng, mô màng bụng hay tổn thương mô học đặc hiệu (nang lao). - Chẩn đoán còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ dương tính của vi trùng lao trong dịch màng bụng rất thấp.
    II. SINH LÝ BỆNH
    Trực khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể đến gây bệnh tại màng bụng, có thể theo các đường sau đây.
    1. Đường bạch mạch.
    Đường bạch mạch dưới màng phổi và dưới màng bụng nối thông rộng rãi với nhau qua cơ hoành.
    2. Đường tiếp cận.
    - Lao sinh dục nữ thường được xem là có nhiều khả năng gây ra lao màng bụng. - Koenig mổ tử thi 107 trường hợp lao màng bụng thấy 80 trường hợp có lao ruột. - Lao hạch mạc treo ruột cũng gây ra lao màng bụng. - Không phải trường hợp lao màng bụng nào cũng thứ phát sau lao ruột.
    Đường máu. Marfan nêu lên năm 1894

    III. GIẢI PHẪU BỆNHĐại thể:
    - Màng bụng có các tổn thương lao dạng hạt.
    - Tổn thương lao xuất tiết của màng bụng, hiện diện dịch ổ bụng.
    - Tổ chức xơ phát triển từ các sợi xơ, dịch xuất tiết rỉ ra từ màng bụng xâm nhập các hạt, các củ và các màng trong ổ bụng bị viêm lao gây dính từng phần của màng bụng tạo nên hình ảnh xơ dính,
    Vi thể: Nang lao

    * Đường kính nang lao 0.5 - 1mm. * Hình tròn màu xám.
    * Trung tâm hoại tử bã đậu và những tế bàoLanghans.
    * Bao quanh khu trung tâm là những tế bào bánliên xếp lộn xộn hoặc thành vòng hướng tâm.
    * Ngoài cùng là vành đai lympho bào, xen kẽ sợi liên kết, tế bào xơ.
    IV. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNGTriệu chứng nhiễm lao chung:
    - Sốt : thường sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi âm ỉ.
    - Gầy, sụt cân từ từ thường trong một thời gian dài.
    - Ăn không ngon, khó ngủ là triệu chứng không chuyên biệt.
    - Có thể có tiền sử tiếp xúc với nguồn lây lao.
    Triệu chứng tại ổ bụng:
    - Đau bụng.
    - Buồn nôn, nôn ít gặp.
    - Tiêu chảy.
    - Báng bụng.
    - Hội chứng bán tắc ruột.
    Triệuchứng lao phối hợp:
    - Lao phổi,
    - Lao màng phổi,
    - Lao ruột.
    - Lao hạch.
    V. CẬN LÂM SÀNG
    - Côngthức máu.
    - Tốc độ lắng máu.
    - Phản ứng lao tố trong da.
    - Chụp X quang lồng ngực.
    - Chụp X quang ổ bụng.
    - Siêu âm bụng.
    - Chụp cắt lớp điện toán ổ bụng.
    - Xét nghiệm dịch báng.
    Xét nghiệm dịch báng: Là môt trong những xét nghiệm quan trọng giúp định hướng trong chẩn đoán laomàng bụng.
    * Hàm lượng Protein > 25g/l.
    * SAAG < 11 g/l
    * Tế bào trong dịch màng bụng chủ yếulà lympho, (150 – 4000/ mm3).
    * Sinh hóa tế bào, ADA.
    * Soi, cấy dịch màng bụng tìm vi trùnglao.
    * Phản ứng chuỗi polymerazase.
    Pháthiện bằng chất chỉ điểm (marker) ADA:
    + Mới đây người ta dùnghoạt tính của ADA(adenosine deaminase) trong dịch cổ trướng như là một chất chỉ điểm đặc hiệu đểchẩn đoán lao màng bụng.
    + ADA là một men (enzym) có trên bề mặt tế bàolympho và các đại thực bào. Nó xúc tác sự chuyển adenosin thành inosin. Ở cácvùng có sự tăng trưởng của tế bào lympho được hoạt hoá, tỷ lệ ADA tăng.
    - Sinhthiết màng bụng. sinh thiết mù hay sinh thiết qua nội soi ổ bụng kếtquả tìm thấy nang lao (tiêu chuẩn vàng)
    VI. CHẨN ĐOÁN
    Chẩn đoán xácđịnh lao màng bụng dựa vào ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn sau.

    1. Mô bệnh học mảnh sinh thiết màng bụng có tổn thươngviêm lao (nang lao).
    2. Tìm thấy trực khuẩn lao trong dịch màng bụng.
    3. Đáp ứng với điều trị theo phát đồ kháng lao, sau 2tháng điều trị.
    4. ADA.

    IV. ĐIỀU TRỊ
    Nguyên tắc căn bản trong điều trị lao:

    • Phối hợp các thuốc chống lao.
    • Thuốc phải dùng đúng liều lượng.
    • Thuốc phải dùng đủ thời gian.
    • Dùng thuốc phải liên tục.
    • Điều trị theo hai giai đoạn: tấn công và duy trì.
    • ĐIỀU TRỊ theoCác phác đồ điều trị và chỉ định:

    Phác đồ điều trị bệnh nhân lao mới:
    Công thức: 2 SHRZ / 6 HE
    Chỉ định: Tất cả cáctrường hợp bệnh nhân lao mới.
    Phác đồ điều trị lại:
    Công thức: 2SHRZE / 1 HRZE / 5 H3R3E3.
    Chỉ định: Công thứcnày dùng trong các trường hợp: thất bại hoặc tái phát của công thức điều trịbệnh nhân lao mới.
    V. KẾT LUẬN
    Kết quả các phương pháp chẩn đoán laomàng bụng:
    + Sinh thiết màng bụng qua da độ nhạy 91,67% và độ đặchiệu 100%.
    + ADA dịch màng bụngđộ nhạy là 96,7%, độ đặc hiệu là 95,7%.
    Tiên đoán dương 96,7%, tiên đoán âm 95,7%.
    ADAlà xét nghiệm ít xâm lấn, rẻ tiền, dễ thực hiện và độ nhạy đặc hiện cao.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    Ths Bs Võ Hồng Minh Công
    Trưởng khoa Nội Tiêu hóa

  23. #19
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Triệu chứng và phân loại bệnh lao xương khớp
    Lao xương - khớp là một trong những thể lao hay gặp nhất sau lao phổi. Trong bệnh lao xương - khớp, vi khuẩn lao (BK) xuất phát từ tổn thương lao phổi hoặc lao hạch rồi lan theo đường máu đến khu trú và gây bệnh ở các đốt sống, các khớp háng, gối, cổ chân, khuỷu tay và cổ tay. Lao khớp thường chỉ khu trú ở một khớp đơn độc.

    Lao xương khớp (Ảnh minh họa)
    Lao xương - khớp là một trong những thể lao hay gặp nhất sau lao phổi. Trong bệnh lao xương - khớp, vi khuẩn lao (BK) xuất phát từ tổn thương lao phổi hoặc lao hạch rồi lan theo đường máu đến khu trú và gây bệnh ở các đốt sống, các khớp háng, gối, cổ chân, khuỷu tay và cổ tay.
    Lao khớp thường chỉ khu trú ở một khớp đơn độc.
    Lao đốt sống - đĩa đệm (bệnh Pott)
    Ngày nay bệnh này đã ít gặp hơn trước. Bệnh nhân thường là người có tiền sử lao: lao sơ nhiễm nặng, mới mắc lao một cơ quan nào đó (phổi, hạch...). Tổn thương lao hay gặp ở cột sống lưng và cột sống thắt lưng. Cột sống cổ và vùng bản lề cổ - chẩm ít bị lao hơn.
    Ðặc điểm của bệnh là các biểu hiện bệnh lý chỉ mờ nhạt, không rầm rộ. Trong một thời gian dài bệnh nhân chỉ thấy đau ít ở cột sống. Nhiều khi bệnh chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng: áp-xe lạnh (là loại áp-xe không kèm phản ứng viêm và hình thành chậm), chèn ép tủy. Các tổn thương Xquang xuất hiện chậm: hẹp khe đĩa đệm, ổ phá hủy lớn ở thân các đốt sống, gù, hình ảnh con thoi cạnh đốt sống, biểu hiện của áp- xe lạnh.
    Các xét nghiệm sinh học sẽ khẳng định chẩn đoán: test tuberculin trong da bao giờ cũng dương tính rất mạnh, có khi mọng nước (nếu test âm tính, có thể loại trừ được bệnh Pott). Các xét nghiệm tìm BK trong đờm, trong nước tiểu, nếu dương tính sẽ quyết định chẩn đoán, mặt khác cũng chứng tỏ người bệnh còn bị lao ở những cơ quan khác nữa.
    Lao khớp háng
    Bệnh hay gặp, biểu hiện bằng đau ở bẹn hoặc ở mông, lan xuống đầu gối làm cho bệnh nhân đi lại khập khiễng, teo cơ từ đầu đùi. Sốt, gầy sút, chán ăn. Các tổn thương Xquang xuất hiện chậm: đầu tiên là hình ảnh loãng xương, về sau là hình hẹp khe khớp. Chụp cắt lớp thấy những ổ phá hủy dưới sụn hoặc những ổ viêm xương. Nếu không được điều trị, khớp sẽ bị phá hủy làm hạn chế vận động, các triệu chứng toàn thân nặng lên, xuất hiện các áp-xe lạnh, đặc biệt là ở vùng bẹn.
    Lao khớp gối
    Biểu hiện bệnh là một u trắng ở đầu gối giống như khi bị viêm một khớp đơn độc mạn tính, kèm theo những dấu hiệu viêm tại chỗ, tràn dịch ổ khớp với dấu hiệu chạm xương bánh chè, dầy màng hoạt dịch.
    Lúc đầu, chụp Xquang khớp gối chưa thấy gì bất thường, về sau mới xuất hiện các tổn thương sụn và xương. Cấy nước màng hoạt dịch thường tìm được BK. Nhiều khi phải sinh thiết màng hoạt dịch bằng kim to hoặc trong khi nội soi khớp để tìm những tổn thương mô bệnh học điển hình.
    Ðiều trị
    Ðiều trị bệnh lao xương - khớp cần phải tiến hành sớm và kéo dài ít nhất là 18 tháng. Ba nội dung điều trị là:
    - Ðiều trị nội khoa
    Dùng thuốc chống lao: trong 2 tháng đầu, dùng phối hợp bốn loại thuốc rimifon, rifampicine, pyrazinamide, ethambutol. Những tháng sau dùng hai loại rimifon và rifampicine. Cần điều chỉnh thuốc dựa theo kết quả kháng sinh đồ.
    - Cố định khớp
    Cố định khớp bằng cách sử dụng các giường bột (cho cột sống) và máng bột (cho các chi), thời gian cố định từ 3 đến 6 tháng. Với những trường hợp nhẹ, được chẩn đoán sớm, chỉ cần nằm nhiều, tránh vận động, mang vác nặng, không cần cố định bằng bột.
    - Ðiều trị ngoại khoa
    Khi có chỉ định mổ thì tùy từng trường hợp cụ thể mà áp dụng các phương pháp cắt bỏ màng hoạt dịnh, lấy ổ áp-xe, lấy mảnh xương chết, cắt đầu xương, làm cứng khớp, giải phóng chèn ép tủy.
    Theo SK&ĐS

  24. #20
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,200
    Cảm ơn
    4,420
    Được cảm ơn: 14,191 lần
    Lao xương khớp

    Lao xương khớp là tình trạng viêm các khớp, xương do lao trong đó viêm đốt sống - đĩa đệm do lao hay gặp nhất. Trường hợp anh trai bạn đau cột sống thắt lưng có thể bị viêm đốt sống - đĩa đệm do lao. Biểu hiện tại chỗ: thường bệnh nhân đau âm ỉ liên tục, đau tăng về đêm. Ấn tại chỗ đau chói. Khi bị lâu có thể dẫn đến xẹp đốt sống gây gù nhọn. Lao có thể dò mủ ra ngoài, chất mủ giống như bã đậu. Cũng có khi lao tạo thành ổ áp-xe lạnh cạnh cột sống.

    trực khuẩn lao trong xương

    I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH LAO XƯƠNG KHỚP:

    • Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do vi khuẩn lao người, có thể gặp vi khuẩn lao bò, rất hiếm gặp vi khuẩn kháng cồn kháng toán không điển hình.
      • Lao xương khớp thường xuất hiện sau lao sơ nhiễm 2 - 3 năm (giai đoạn 2 theo Ranke). Hay thấy sau lao các màng và trước lao các nội tạng.
      • Vi khuẩn lao có thể lan từ phức hợp sơ nhiễm tới bất kỳ xương hoặc khớp nào trong cơ thể. Thông thường vi khuẩn lao tới khớp chủ yếu theo đường máu, ít trường hợp vi khuẩn theo đường bạch huyết, có thể theo đường tiếp cận như lao khớp háng do lan từ ổ áp xe lạnh của cơ thắt lưng.
      • Tuổi mắc bệnh trước đây đa số là tuổi trẻ < 20. Hiện nay lao xương khớp chủ yếu gặp ở người lớn, lứa tuổi từ 16 - 45 tuổi.

    • Các yếu tố thuận lợi mắc lao xương khớp:
      • Trẻ nhỏ chưa được tiêm phòng lao bằng vaccin BCG.
      • Có tiếp xúc với nguồn lây đặc biệt là nguồn lây chính, nguy hiểm, tiếp xúc thường xuyên liên tục.
      • Đã và đang điều trị lao sơ nhiễm, lao phổi hay một lao ngoài phổi khác.
      • Có thể mắc một số bệnh có tính chất toàn thân như: đái tháo đường, loét dạ dày - tá tràng, cắt 2/3 dạ dày.
      • Cơ thể suy giảm miễn dịch, còi xương, suy dinh dưỡng, nhiễm HIV/AIDS, suy kiệt nặng.

    • Vị trí tổn thương theo thống kê của nhiều tác giả thấy:
      • Lao cột sống chiếm 60 - 70 %.
      • Lao khớp háng chiếm 15 - 20%.
      • Lao khớp gối chiếm 10 - 15%.
      • Lao khớp cổ chân 5 - 10%.
      • Lao khớp bàn chân 5%.
      • Các nơi khác hiếm gặp.

    II. GIẢI PHẪU BỆNH LAO XƯƠNG KHỚP:

    Đại thể:

    • Có thể gặp một trong những hình ảnh sau:
      • Viêm tuỷ xương.
      • Tổn thương lao khớp: Phần mềm phù nề do phản ứng viêm quanh khớp, màng hoạt dịch loét và có fibrin xuất tiết, có hạt lao rắn màu trắng xám, có khi mềm, đôi khi xơ hoá.
      • áp xe lạnh: mủ trắng, thành ổ áp xe thường phủ bởi nhiều hạt lao và mảnh tổ chức hoại tử.

    Vi thể

    • Tổn thương cơ bản là các nang lao điển hình.

    III. CÁC THỂ LÂM SÀNG BỆNH LAO XƯƠNG KHỚP:

    Thể viêm màng hoạt dịch không đặc hiệu do phản ứng

    • Tổn thương lao ở một tạng khác, nói một cách khác về mặt tổ chức học giống như bệnh thấp, không có tổn thương đặc hiệu của lao (nang lao, bã đậu, vi khuẩn lao). Thường là viêm nhiều khớp, hay gặp trong bệnh lao toàn thể, bệnh thường tiến triển nhanh, điều trị đặc hiệu thì viêm khớp sẽ giảm nhanh cùng với các triệu chứng khác.

    Thể viêm màng hoạt dịch do lao

    • Tổn thương khu trú ở màng hoạt dịch, về mặt vi thể có đầy đủ tiêu chuẩn của một tổn thương lao. Thể này thường hay bị bỏ qua, không được chẩn đoán, do đó sẽ chuyển sang thể nặng hơn là lao xương khớp.

    Thể lao xương khớp

    • Tổn thương lao ở cả phần màng hoạt dịch và đầu xương, sụn khớp. Đây là thể kinh điển, thường diễn biến kéo dài và để lại những hậu quả rất xấu.

    LÂM SÀNG:

    Triệu chứng toàn thân

    • Có hội chứng nhiễm trùng, nhiễm độc mạn tính: Sốt vừa và nhẹ, thường tăng cao về chiều và tối, sốt kéo dài. Bệnh nhân mệt mỏi, ăn ngủ kém, gầy sút cân, da xanh tái, ra mồ hôi trộm.

    Triệu chứng cơ năng

    • Đau tại vị trí tổn thương, đau tăng khi vận động, khi gắng sức.
    • Hạn chế cử động: cúi, ngửa, nghiêng, quay và gấp, duỗi các chi.

    Triệu chứng thực thể

    • Gù, vẹo cột sống, đi lệch người, đi tập tễnh. - Các khớp xưng to, đau.
    • Rò mủ có thể gặp tại chỗ hoặc ở xa vị trí tổn thương. - Có thể có teo cơ.
    • Hạch gốc chi sưng to cùng bên với vị trí tổn thương.
    • Có thể liệt mềm hai chi dưới, rối loạn cơ tròn trong lao cột sống có chèn ép tuỷ.

    CẬN LÂM SÀNG:

    Sinh thiết (đầu xương, màng hoạt dịch)

    • Xét nghiệm tế bào, tìm vi khuẩn lao.

    Tìm vi khuẩn lao trong chất bã đậu qua lỗ rò của áp xe lạnh.

    Chụp X quang


    • quan trọng trong chẩn đoán, nhưng thường xuất hiện muộn hơn các dấu hiệu lâm sàng. Biểu hiện màng xương dày, có hiện tượng huỷ xương, mảnh xương hoại tử, khe khớp hẹp, nham nhở. Có trường hợp mất khe khớp, xương có hiện tượng mất chất vôi thường rõ ở đầu xương, có thể thấy hình hốc nhỏ ở đầu xương (hang). Phần mềm xung quanh sưng lên làm hình khớp trở nên mờ, tổn thương nặng có thể thấy trật khớp và dính khớp.

    Phản ứng Mantoux:

    • thường dương tính và dương tính mạnh.

    Tìm tổn thương lao tiên pháthay lao phổi, ngoài phổi phối hợp bằng các xét nghiệm tìm vi khuẩn lao, X quang phổi...

    Các xét nghiệm miễn dịch học của dịch khớp, chất bã đậu:


    • ELISA
    • kháng thể kháng lao
    • PCR.

    IV. MỘT SỐ THỂ LAO XƯƠNG KHỚP THƯỜNG GẶP:

    1. LAO CỘT SỐNG:

    • Được Percival Pott mô tả từ năm 1779 nên bệnh còn có tên là bệnh Pott.
    • Thường gặp nhất trong các thể lao xương khớp (60 - 70%).
    • Tuổi thường gặp hiện nay từ 16 - 45 (62,4%).
    • Tổn thương chủ yếu ở phần đĩa đệm và thân đốt sống (bệnh lao cột sống phần trước); rất hiếm gặp tổn thương lao ở phần vòng cung sau và mỏm gai (bệnh lao cột sống phần sau).
    • Vị trí tổn thương thường gặp: vùng lưng 60 - 70%; vùng thắt lưng 15 -30%; vùng cổ 5%; vùng cùng cụt rất hiếm.
    • Khoảng 70% trường hợp có 2 đốt sống bị tổn thương và khoảng 20% tổn thương từ 3 đốt sống trở lên.
    • Bệnh diễn biến thành 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn có triệu chứng và tiên lượng khác nhau, bệnh càng được chẩn đoán sớm, điều trị đúng nguyên tắc thì tiên lượng càng tốt.

    Giai đoạn khởi phát
    Lâm sàng


    • Triệu chứng cơ năng: Chủ yếu là đau, đau tại chỗ hay đau kiểu rễ:
      • Đau tại chỗ: Đau ở vùng cột sống bị tổn thương, đau cố định, cường độ ít nhiều tuỳ từng trường hợp, đau tăng lên khi vận động, mang vác, đau giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng dần, dùng các thuốc giảm đau không bớt.
      • Đau kiểu rễ: do tổn thương kích thích vào một vài nhánh của rễ thần kinh thường là cả hai bên, đôi khi chỉ có một bên. Nếu tổn thương ở vùng cổ, đau lan xuống cánh tay; nếu tổn thương ở vùng đau lưng lan xuống dưới theo đường đi của dây thần kinh đùi hay dây thần kinh hông to. Đau có tính chất dai dẳng, kéo dài, ngày càng tăng.

    • Triệu chứng thực thể:
      • Khám cột sống tại vị trí tổn thương có đoạn cứng đờ, không mềm mại khi làm động tác (cúi, ngửa, nghiêng, quay). Khối cơ hai bên co cứng, trục cột sống thẳng chưa vẹo sang một bên. Gõ vào vùng tổn thương thấy đau rõ. Chưa thấy hình lồi của cột sống.

    • Triệu chứng toàn thân:
      • Nhiễm trùng, nhiễm độc mạn tính: Sốt nhẹ hoặc sốt vừa về chiều tối, kéo dài, mệt mỏi ăn ngủ kém, gầy sút cân, da xanh tái, ra mồ hôi trộm.

    Cận lâm sàng

    • X quang: Rất có giá trị để chẩn đoán sớm lao cột sống nhưng đòi hỏi phải chụp đúng kỹ thuật và nhận xét thật tỷ mỉ. Cần phải chụp cột sống thẳng và nghiêng. Những hình ảnh tổn thương trên X quang thường gặp là: hình đĩa đệm hẹp hơn so với các đốt trên và dưới (rõ nhất trên phim nghiêng).
      • Đường viền đốt sống mờ, đốt bị tổn thương có thể kém đậm hơn cácđốt khác.
      • Phá huỷ nhẹ của thân đốt sống, nhất là phần trước và mặt trên.
      • Phần mềm quanh đốt sống hơi đậm hơn vùng chung quanh.
      • Trong những trường hợp khó phải chụp cắt lớp, có thể thấy hình khuyết ở thân đốt sống.

    • Phản ứng Mantoux: Dương tính.
    • Sinh thiết đốt sống bằng kim, bằng phẫu thuật để chẩn đoán giải phẫu bệnh và vi khuẩn.
    • Xét nghiệm máu: Tốc độ máu lắng tăng cao.

    Giai đoạn toàn phát
    Lâm sàng


    • Triệu chứng cơ năng:
      • Đau cố định một vùng, đau liên tục, ngày càng tăng. Đau lan kiểu rễ rất rõ rệt.
      • Hạn chế vận động (cúi, nghiêng, ngửa, quay).

    • Triệu chứng thực thể:
      • Đốt sống bị lồi ra phía sau: Nhìn và sờ thấy một đốt sống lồi ra phía sau rất rõ, một số trường hợp thấy cột sống vùng tổn thương vẹo sang một bên.
      • Dấu hiệu chèn ép tuỷ: Do đốt sống và đĩa đệm bị phá huỷ nặng, di lệch và chèn ép vào tuỷ sống gây liệt. Thường liệt mềm hai chi dưới, liệt từ từ tăng dần, kèm theo giảm cảm giác và rối loạn cơ tròn.
      • Có thể thấy triệu chứng lao các bộ phận khác của cơ thể: các màng, nội tạng, hạch...

    • Triệu chứng toàn thân:
      • Nhiễm trùng, nhiễm độc mạn tính rõ: Sốt thường xuyên, liên tục, kéo dài, tăng cao về chiều tối, ăn ngủ kém, gầy sút cân, da xanh tái.

    Cận lâm sàng

    • X quang: có 3 biểu hiện chủ yếu:
      • Đĩa đệm hẹp nhiều, gần như mất.
      • Thân đốt sống bị phá huỷ nhiều, nhất là phần trước, tạo nên hình chêm và tụt ra phía sau (phim nghiêng). Từ hai mặt khớp của 2 đốt sống trên và dưới tổn thương sẽ vẽ được một góc Konstam - Blerovaky, góc này đánh giá độ gù của cột sống.
      • Có thể có hình áp xe lạnh trên phim thẳng quanh vùng tổn thương. - Phản ứng Mantoux: dương tính.

    • Hút dịch mủ áp xe lạnh tìm vi khuẩn lao.
    • Xét nghiệm máu: tốc độ máu lắng cao.

    Giai đoạn cuối

    • Nếu bệnh nhân được điều trị đúng nguyên tắc thì triệu chứng toàn thân tốt lên, tổn thương ngừng tiến triển, áp xe lạnh thu nhỏ lại, sau từ 1 - 2 năm cột sống dính lại, vùng bị phá huỷ được tái tạo dần, di chứng còn lại là hiện tượng gù và hạn chế vận động. Nếu không được điều trị hoặc cơ thể quá suy kiệt, bệnh có thể nặng dần lên, tổn thương lan rộng, lan thêm vào các tạng khác, chèn ép tuỷ. Bệnh nhân chết vì biến chứng thần kinh và nhiễm trùng.

    Chẩn đoán
    Chẩn đoán xác định


    • Dựa vào những dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng, tiền sử và yếu tố thuận lợi như đã trình bày ở trên.

    Chẩn đoán phân biệt:

    • Ung thư cột sống nguyên phát hay thứ phát do di căn:
      • Đau dữ dội, liên tục cả khi vận động và nghỉ ngơi.
      • Bệnh tiến triển nhanh, xấu, thể trạng suy sụp, liệt xuất hiện sớm và tăng nhanh.
      • Cột sống không lồi ra phía sau, có thể thấy khối u di căn nơi khác đến.
      • Có thể sốt hoặc không.
      • Phản ứng Mantoux thường âm tính.
      • X quang: thường gặp một đốt sống nham nhở, khuyết một phần thân xương, khe liên đốt không hẹp. Đốt sống không hẹp hình nêm mà thường lún đều.
      • Sinh thiết tổn thương xét nghiệm có thể thấy tế bào ung thư.

    • Một số bệnh khác của cột sống không do lao:
      • Viêm xương do vi khuẩn, thường gặp do tụ cầu. + U tuỷ xương.
      • Thoái hoá cột sống.
      • Gai đôi cột sống.
      • Viêm cột sống dính khớp.

    2. LAO CÁC KHỚP KHÁC:

    • Phần lớn chỉ bị một khớp, hay gặp nhất là khớp háng, cũng giống lao cột sống, lao các khớp khác chia 3 giai đoạn.

    Giai đoạn khởi phát: Bệnh có thể bắt đầu bằng hai cách.
    Lâm sàng


    • Khớp sưng to, đau, hạn chế vận động, biến dạng chi và teo cơ. Thường nổi hạch ở gốc chi. Gầy sút cân và sốt không rõ rệt. Tổn thương lao ở các tạng khác (lao các màng, hạch, phổi...) ít khi thấy.

    Cận lâm sàng

    • Sinh thiết màng hoạt dịch bằng kim, bằng phẫu thuật qua vi thể thấy tổn thương lao điển hình (nang lao, bã đậu và vi khuẩn lao). Đây là phương pháp rất có giá trị để chẩn đoán sớm thể lao bắt đầu từ màng hoạt dịch mà hình ảnh X quang chưa có thay đổi.
    • Chọc dịch khớp, rất ít khi tìm thấy vi khuẩn lao trong dịch khớp kể cả nuôi cấy và tiêm truyền.
    • Sinh thiết hạch gốc chi đôi khi thấy tổn thương lao đặc hiệu.
    • X quang rất có giá trị để chẩn đoán thể lao xương khớp, nhưng ít thay đổi trong thể lao bao hoạt dịch.
      • Dấu hiệu chung: Hẹp khe khớp, mất chất vôi đầu xương, tổn thương phá huỷ xương, trong giai đoạn này thường nhẹ và kín đáo. Hình ảnh khuyết, móc và hang ở đầu xương hoặc sụn khớp là những biểu hiện khá đặc hiệu.
      • Dấu hiệu riêng từng khớp.
      • Khớp háng: Hẹp khe khớp và mất chất vôi từng vùng, có hình khuyết hoặc hốc nhỏ ở chỏm xương đùi phần trên ngoài. Nhiều khi phải chụp cắt lớp mới thấy.
      • Khớp gối: Hẹp khe khớp và mất vôi từng vùng là những dấu hiệu gián tiếp, nhưng đặc biệt thấy hình ảnh cản quang ở phần trên xương bánh chè (chụp nghiêng khớp gối) do phần túi cùng dưới cơ tứ đầu đùi của bao hoạt dịch bị viêm, dày, phù nề.
      • Các khớp khác: Khó phát hiện tổn thương, nhiều khi phải chụp cắt lớp để tìm hình khuyết và hang ở đầu xương.

    • Phản ứng Mantoux dương tính. - Tốc độ máu lắng cao.

    Giai đoạn toàn phát:

    • Giai đoạn này tổn thương lao lan rộng, mức độ phá huỷ nhiều, phần đầu xương, sụn khớp và bao khớp đều có tổn thương lao.

    Dấu hiệu chung

    • Lâm sàng:
      • Bệnh nhân sốt thường xuyên, kéo dài mệt mỏi, ăn ngủ kém, gày sút nhiều, da xanh. Tổn thương ở khớp nông thấy khớp sưng khá to hạn chế vận động, đau, da bên ngoài nổi tĩnh mạch, sờ thấy hơi nóng hơn khớp đối diện, bao khớp dày lên. Có thể thấy lỗ rò chảy dịch hoặc chất bã đậu kéo dài nhiều tháng. Cơ của đoạn chi liên quan teo rõ rệt, nổi hạch vùng gốc chi.

    • Cận lâm sàng:
      • Sinh thiết bao hoạt dịch hoặc hạch gốc chi thấy tổn thương lao.
      • Xét nghiệm dịch khớp có thể thấy vi khuẩn lao.
      • Tốc độ máu lắng tăng cao.
      • X quang: Mất chất vôi đầu xương lan rộng, hẹp khe khớp, sụn khớp bị phá huỷ, nham nhở. Có thể thấy hình ảnh khuyết xương hoặc hang. Phần mềm quanh khớp đậm đặc, cản quang hơn bình thường (do sự hình thành ổ áp xe lạnh).

    . Biểu hiện từng khớp

    • Khớp háng: Bệnh nhân đau, đi đứng hạn chế nhiều, các cơ ở đùi và mông teo rõ rệt, hạch nổi ở bẹn. Khám thấy các điểm đau của khớp háng, hạn chế các động tác, có thể có các ổ áp xe lạnh ở phần bẹn và mông, có khi thấy lỗ rò, Xquang thấy rõ nhất là phần trên ngoài của thân xương đùi.
    • Khớp gối: Sưng to nhiều, hạn chế vận động, đau và nóng, khám thấy da vùng khớp gối nổi nhiều tĩnh mạch, có thể thấy lỗ rò, bao khớp dày, ổ khớp có nhiều dịch; động tác gấp duỗi hạn chế. Cần khám kỹ để tìm các ổ áp xe lạnh ở dưới cơ tứ đầu đùi, hõm khoeo, phía sau cơ tam đầu cẳng chân. Trên hình ảnh X quang thấy rõ nhất tổn thương phần mâm chày và phía sau lồi cầu dưới xương đùi.
    • Khớp cổ chân: Sưng to ở bốn vị trí trước và sau của hai mắt cá, bàn chân ở tư thế hơi duỗi, vận động hạn chế. Thường thấy áp xe ở sau mắt cá ngoài. Hình ảnh X quang thường thấy tổn thương phần trên xương sên và phần đầu dưới xương chày.

    Giai đoạn cuối

    • Nếu được điều trị, đúng nguyên tắc bệnh đỡ nhanh, các triệu chứng giảm dần và khỏi, bệnh nhân có thể sinh hoạt và làm việc bình thường. Ngược lại nếu không được điều trị đặc hiệu, chỉ cố định đơn thuần, sau khi bị bệnh 2 -3 năm tổn thương lao ngừng phát triển, áp xe lạnh xẹp bớt, đầu xương vôi hoá trở lại, phần xương và sụn bị viêm được bao bọc bởi một vòng xơ, khớp bị dính một phần hay toàn bộ, bao khớp bị xơ hoá nhiều hay ít. Có thể coi bệnh đã ổn định, tuy nhiên vi khuẩn lao vẫn còn tồn tại trong tổn thương.
    • Về lâm sàng khớp giảm sưng, nóng, các túi áp xe lạnh thu nhỏ lại dần, các lỗ rò có thể khỏi để lại sẹo xấu, bệnh nhân chỉ đau khi vận động nhiều. Vận động bị hạn chế nhiều hay ít, các dấu hiệu toàn thân tốt lên và rõ rệt, tăng cân, không sốt. Nếu điều trị không tốt có thể biến chứng lao lan sang các bộ phận khác hoặc rò mủ kéo dài kèm theo có nhiễm khuẩn phụ.

    V. ĐIỀU TRỊ LAO XƯƠNG KHỚP:

    Điều trị nội khoa:

    • Điều trị lao xương khớp nội khoa là chủ yếu, điều trị sớm, đúng nguyên tắc từ đầu. Phối hợp 4 đến 5 loại thuốc chống lao trong giai đoạn điều trị tấn công. Điều trị phối hợp các thuốc chữa triệu chứng, chống bội nhiễm và nâng cao thể trạng.

    Cố định và vận động

    • Trước đây điều trị lao xương khớp chủ yếu là cố định, chờ đợi cho bệnh nhân tiến tới giai đoạn ổn định một cách tự nhiên, vì vậy cố định thường phải để rất lâu, hàng năm và cố định bằng bó bột. Phần lớn bệnh nhân sau khi khỏi bệnh thường bị teo cơ và cứng khớp rất trầm trọng.
    • Quan niệm hiện nay có nhiều thay đổi
      • Cố định trong suốt thời gian bệnh tiến triển, nhưng không hoàn toàn và không liên tục, tốt nhất là sử dụng các giường bột và máng bột, có thể nằm trên nền phẳng cứng để bệnh nhân thay đổi t- thế nhiều lần trong ngày, tránh được các hiện tượng cứng khớp và teo cơ. Trừ trường hợp nặng, tổn thương ở cột sống cổ cần phải cố định bằng bột để tránh tai biến ép tuỷ.
      • Những trường hợp tổn thương nhẹ được chẩn đoán sớm, chỉ cần nằm nhiều, tránh vận động và gắng sức là đủ, không cần cố định bằng bột.

    Điều trị ngoại khoa
    Chỉ định


    • Lao cột sống có nguy cơ chèn ép tuỷ sống hoặc đã ép tuỷ.
    • Lao có ổ áp xe lạnh ở tại chỗ hoặc di chuyển ở xa.
    • Tổn thương lao phá huỷ đầu xương nhiều.
    • Khớp bị di lệch có ảnh hưởng nhiều đến chức năng sau này.

    Phương pháp:

    • Mổ sớm sau khi điều trị nội khoa tích cực từ 1 - 3 tháng. Sau mổ điều trị tiếp 6 - 9 tháng.
    • Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà phương pháp mổ sẽ làm là cắt bỏ bao hoạt dịch, lấyổ ép xe lạnh, lấy xương chết, cắt đầu xương, làm cứng khớp, cố định cột sống. Sau khi mổ nên cố định 1 - 3 tháng sau mới cho vận động trở lại.

    Chú ý chế độ ăn uống và sinh hoạt:
    1 - Chú ý giữ gìn tinh thần thanh thản, tránh căng thẳng, không lo âu buồn phiền, sinh hoạt, nghỉ ngơii, làm việc điều độ để cho cơ thể khỏe giúp bệnh chóng hồi phục.
    2 - Không ăn mỡ, các chất cay nóng như tiêu, ớt cay, rượu, hạn chế ăn đường, ăn nhiều chất rau xanh, trái cây.
    3 - Cố định vùng bệnh, hạn chế hoạt động.
    4 - Chú ý tắm rửa vệ sinh lau người hàng ngày, thường xuyên thay đổi tư thế bệnh nhân, chống loét. Để đạt hiệu quả điều trị tốt, cần chú ý 3 vấn đề cơ bản: tinh thần bệnh nhân cần giừ được thanh thản thoải mái, chế độ chăm sóc vệ sinh chu đáo, chế độ ăn uống đủ chất dinh dường, trái cây, rau xanh.

Trang 1 của 8 123 ... CuốiCuối

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •