Tòa ma túy: Khả năng áp dụng tại Việt Nam

Thứ năm 07/01/2016 09:00


Trong những năm qua Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp mạnh mẽ, đồng bộ đối với công tác kiểm soát và phòng chống ma túy. Mặc dù vậy, từ giữa những năm 1990 đến nay tệ nạn nghiện ma túy vẫn gia tăng nhanh chóng.


Theo số liệu tổng điều tra, ra soát người nghiện ma tuý của Bộ Công an, cuối tháng 9/2014 cả nước có khoảng 204.400 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, gấp 3,7 lần so với năm 1994 (55.445 người). Trong giai đoạn 1994 - 2013, trung bình mỗi năm số người nghiện có hồ sơ quản lý tăng 6,5% tương đương với 6.660 người. Khoảng 90% số quận huyện và 60% số xã phường của cả nước có người nghiện có hồ sơ quản lý.Cũng như ở Mỹ và nhiều quốc gia khác, tệ nạn nghiện ma túy ở Việt Nam cũng có liên quan chặt chẽ tới các tội phạm hình sự. Theo số liệu từ Bộ Công an, khoảng 13,1% người nghiện có hồ sơ quản lý năm 2013 đang được quản lý trong các trại giam, trại tạm giam. Số đang cai nghiện trong các Trung tâm là 22,4%.


Tòa án ra quyết định đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Công tác cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng cho người nghiện ma túy vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập. Khoảng 50% trong số người nghiện ma túy có các vấn đề về sức khỏe tâm thần và thể chất, 38% đã có tiền án, tiền sự. Mô hình cai nghiện tại trung tâm tốn nhiều kinh phí, hiệu quả hạn chế, tỷ lệ tái nghiện cao, từ 70 - 95%, bên cạnh đó còn chịu nhiều sự chỉ trích của các tổ chức quốc tế về nhân quyền cũng như về cơ sở khoa học điều trị nghiện trong trung tâm.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có những chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống ma túy như: Chỉ thị số 21-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống ma túy; Quyết định số 1203/QĐ-TTg ngày 31/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy giai đoạn 2012 – 2015; Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ở Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dự phòng và điều trị nghiện nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy và kiềm chế sự gia tăng người nghiện mới, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, nâng cao sức khỏe nhân dân và hỗ trợ người nghiện tái hòa nhập cộng đồng; Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 26/12/2014 của Chính phủ về Tăng cường công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma tuý trong tình hình mới.

Bên cạnh việc tăng cường hệ thống văn bản pháp luật trong nước, huy động nội lực, Chính phủ, Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm đã chủ động mở rộng quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế để huy động sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho công tác này. Trong chuyến đi nghiên cứu, khảo sát công tác phòng chống ma túy tại Hoa Kỳ (8/2013), Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên BCT, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm và các thành viên trong đoàn gồm lãnh đạo Văn phòng TW Đảng, Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Công an đi thăm mô hình Toà ma tuý ở một số thành phố. Phó Thủ tướng đã đánh giá cao tính khoa học, hiệu quả thực tiễn và tính nhân văn của Tòa ma tuýđã chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu thí điểm mô hình này cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ và các nước trong thực hiện mô hình Tòa ma túy có thể triển khai áp dụng ở Việt Nam. Trước hết để phù hợp với yêu cầu đổi mới về thủ tục tư pháp đưa người đi điều trị nghiện bắt buộc mà các tổ chức quốc tế và các tổ chức Liên hợp quốc đang khuyến cáo Việt Nam thực hiện. Mặt khác, việt triển khai Tòa ma túy sẽ tạo điều kiện cho người sử dụng ma túy, bao gồm cả những người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự vì các tội danh khác có cơ hội được lựa chọn việc điều trị nghiện tại cộng đồng. Chương trình Tòa ma túy cũng vì vậy sẽ giúp làm giảm gánh nặng cho hệ thống các Trại giam, trại tạm giam hiện nay. Chương trình cũng giúp huy động, vận động sự tham gia của các cấp, các ngành, các nguồn lực xã hội vào công tác điều trị nghiện ma túy.

Trước mắt có thể triển khai thí điểm chương trình Tòa ma túy tại một số địa phương với các giải pháp như tạo hành lang pháp lý cho việc thí điểm mô hình Tòa điều trị nghiện ma túy. Trong vấn đề này cần phân biệt Toà ma tuý theo mô hình của Hoa Kỳ với Toà xét đưa người đi cai nghiện bắt buộc theo Luật Xử lý vi phạm hành chính. Bản chất hai mô hình là hoàn toàn khác biệt. Toà ma tuý áp dụng với người nghiện ma tuý có hành vi phạm pháp luật hình sự không nghiêm trọng như tàng trữ, buôn bán lẻ ma tuý, trộm cắp... những tội hình sự này được xác định là có liên quan hoặc hậu quả của nghiện ma tuý. Người nghiện đăng ký tham gia các chương trình điều trị theo Toà ma tuý sẽ không bị truy tố về hình sự, không bị ghi án hình sự... Toà cai nghiện ma tuý có thể áp dụng cả với những người thuộc diện bị đi cai nghiện bắt buộc theo Luật Xử lý vi phạm hành chính nhưng tình nguyện tham gia điều trị nghiện tại cộng đồng theo chương trình Toà ma tuý.

Bên cạnh đó, cần xây dựng mô hình Toà điều trị nghiện ma tuý tại Việt Nam. Bên cạnh việc tính toán đầu tư nhân sự và kinh phí cho triển khai mô hình, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa các đơn vị, nhân sự tham gia chương trình. Ngoài ra, một thành phần không thể thiếu của chương trình Toà điều trị nghiện ma tuý tại cộng đồng chính là các chương trình điều trị nghiện tại cộng đồng. Cần đa dạng hoá loại hình điều trị nghiện tại cộng đồng để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người nghiện. Cần có cả chương trình điều trị thay thế bằng Methadone nhưng cũng cần có cả những chương trình điều trị tại cộng đồng cho những người muốn từ bỏ hoàn toàn việc sử dụng ma tuý, đặc biệt là với những người sử dụng ma tuý tổng hợp như Methamphetamine (hàng đá), Ecstasy (thuốc lắc) hay Amphetamine (hồng phiến) – là những người không thể áp dụng phương pháp điều trị thay thế bằng Methadone.

Đồng thời, tăng cường đầu tư về nhân lực và ngân sách cho các chương trình điều trị nghiện ma túy tại cộng đồng kết nối với Tòa điều trị nghiện ma túy, đảm bảo cung cấp các dịch vụ điều trị tổng hợp, hiệu quả cho người nghiện, bao gồm cả chăm sóc y tế, tư vấn tâm lý và các dịch vụ xã hội hỗ trợ khác.

Đặc biệt, xây dựng chỉ số đánh giá hiệu quả chương trình thí điểm, về các mặt như: tỷ lệ sử dụng ma tuý trái phép, tỷ lệ tái phạm và tái nghiện, sự tuân thủ điều trị, hiệu qủa đầu tư, áp lực với đối với hệ thống tư pháp hình sự... Việc đánh giá nên được thực hiện sau 1, 2 và 3 năm thực hiện thí điểm. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá mô hình thí điểm trình Quốc hội, Chính phủ ban hành các văn bản pháp lý cho việc triển khai mở rộng Tòa ma túy trên toàn quốc.

TS Nguyễn Thị Vân-Bộ LĐTBXH