Trang 2 của 7 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 40 của 122

Chủ đề: Stress là gì ????? Hậu quả của Stress gây ra.

  1. #21
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Rối loạn tiền đình: Bệnh không nên chủ quan.






    Tiền đình là một bộ phận nằm ở phía sau ốc tai hai bên, nó là một hệ thống giữ vai trò quan trọng trong sự điều chỉnh thăng bằng tư thế, dáng bộ và các phối hợp khác của cơ thể như cử động mắt, đầu và thân mình. Rối loạn tiền đình là bệnh lý gây ra một trạng thái mất cân bằng về tư thế làm cho người bệnh thường xuyên bị chóng mặt, quay cuồng, hoa mắt, ù tai, buồn nôn, đi đứng lảo đảo......gây khó chịu. Bệnh rất hay tái phát, từ đó làm ảnh hưởng đến công việc, nhất là ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống. Có hai loại rối loạn tiền đình là rối loạn tiền đình ngoại biên và trung ương.
    - Rối loạn tiền đình ngoại biên thường gặp với biểu hiện như chóng mặt khi thay đổi tư thế, đây là dạng bệnh lành tính, chỉ làm cho người bệnh khó chịu trong sinh hoạt nhưng vẫn còn đi đứng được, cơn chóng mặt thường thoáng qua chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn, chúng xuất hiện khi thay đổi tư thế như lắc đầu, từ tư thế nằm chuyển sang ngồi. Bệnh thường xảy ra sau chấn thương vùng đầu, ngoài ra bệnh lý tắc mạch máu ở vùng sau cổ cũng là nguyên nhân gây nên rối loạn tiền đình ngoại biên. Bên cạnh đó rối loạn tiền đình ngoại biên còn có thể có biểu hiện tình trạng chóng mặt thật nặng và kéo dài, người bệnh không thể đi đứng được, không thể thay đổi tư thể từ nằm sang ngồi được. Đặc biệt cơn chóng mặt thường kèm theo nôn ói rất nhiều và nôn kéo dài, ù tai, giảm thính lực một hoặc cả hai bên tai. Người bệnh còn có thể kèm theo tình trạng nặng đầu, khó tập trung, choáng váng, hồi hộp, sợ ánh sáng...... Rối loạn tiền đình ngoại biên xảy ra thường là do tổn thương tai trong, hoặc dây thần kinh tiền đình xuất phát từ các nguyên nhân như: viêm tai xương chũm mạn tính, do dùng các thuốc có độc tính gây tổn thương tiền đình như thuốc kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosis, thuốc lợi tiểu, thuốc giảm đau, rượu......

    - Rối loạn tiền đình trung ương là bệnh lý thường gặp nhất với những biểu hiện của tình trạng thiểu năng tuần hoàn não, người bệnh đi đứng khó khăn, khi thay đổi tư thế người bệnh bị chóang váng, chóng mặt, đôi khi khó tập trung, mau quên, thỉnh thoảng kèm theo nôn ói. Rối loạn tiền đình trung ương là do có sự tổn thương nhân tiền đình, tổn thương đường liên hệ của các nhân dây tiền đình ở thân não, tiểu não mà nguyên nhân có thể là do động mạch mang máu đến nuôi não bộ bị thiểu năng bởi tình trạng xơ mỡ động mạch, hạ huyết áp tư thế, thoái hoá cột sống cổ làm chèn ép mạch máu cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng rối loạn tiền đình trung ương.

    Khi có những triệu chứng như chóng mặt, ù tai, đi đứng không vững, nghi ngờ bệnh lý rối loạn tiền đình, người bệnh cần đến các cơ sở y tế để được khám và xác định chính xác nguyên nhân để từ đó có hướng chữa trị thích hợp, và càng sớm càng tốt.

    Điều trị rối loạn tiền đình ngày nay chủ yếu là điều trị nội khoa và hoàn toàn phải do bác sĩ chỉ định về chế độ thuốc men và thời gian, tuyệt đối người bệnh không được tự ý điều trị hoặc điều trị không tuân thủ chế độ y lệnh của bác sĩ, có như thế mới có thể đạt được hiệu quả và đề phòng tái phát, nhất là với rối loạn tiền đình ngoại biên.

    Rối loạn tiền đình: Bệnh không nên chủ quan Rối loạn tiền đình rất dễ xảy ra ở những người làm việc văn phòng, những người ngồi nhiều trong phòng lạnh và tiếp xúc thường xuyên với máy vi tính. Vì ngồi nhiều trong phòng lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh, lâu ngày làm co thắt động mạch cột sống thân nền, dẫn đến tình trạng thiếu máu nuôi vùng nảo bộ gây ra bệnh rối loạn tiền đình. Đây cũng là nguyên nhân khiến bệnh dễ tái phát. Do đó để phòng ngừa bệnh rối loạn tiền đình, tránh tái phát bệnh chúng ta cần tránh ngồi nhiều trong phòng lạnh, tránh ngồi lâu trước náy vi tính, không nên ngồi lâu khi làm việc văn phòng.

    Có khá nhiều nguyên nhân gây rối loạn tiền đình: môi trường, thời tiết (chuyển mùa), nhiễm độc (hóa chất, thuốc, ăn uống...), tuần hoàn kém và các vấn đề thần kinh như căng thẳng, tâm lý không ổn định.
    Rối loạn tiền đình, căn bệnh mất thăng bằng:

    Nôn thốc nôn tháo, chóng mặt khi thay đổi tư thế, mọi vật như đảo lộn, quay cuồng... Đó là các triệu chứng rối loạn tiền đình. Rối loạn tiền đình, căn bệnh mất thăng bằng:

    Các triệu chứng ban đầu thường ít xuất hiện, nếu có thì có thể là mất ngủ, người mệt mỏi. Nếu cơn nhẹ, bệnh nhân có thể cố gắng đứng dậy được nhưng mất thăng bằng, dễ ngã. Nếu cơn nặng, họ chỉ nằm được ở một tư thế, không ngồi dậy nổi, buồn nôn và có thể nôn dữ dội gây mất nước, điện giải, mở mắt ra sẽ thấy mọi vật quay cuồng, đảo lộn. Người bệnh tỉnh táo, đầu không đau nhức nhưng nặng trĩu như bị nén ép lại; sợ ánh sáng, tiếng động và sự thay đổi tư thế, muốn tìm sự yên tĩnh. Mạch thường nhanh, huyết áp hạ, người mệt lả.

    Việc khống chế những cơn chóng mặt “khủng khiếp” là rất cần thiết và phải kịp thời. Để người bệnh nằm nơi yên tĩnh, tránh ánh sáng mạnh. Chọn tư thế nằm thích hợp như: nghiêng trái hoặc phải, hoặc nằm ngửa. Nếu buồn nôn thì cho nôn hết ra, nhưng sau đó phải cho uống bù nước và điện giải; orezol là dung dịch được lựa chọn. Xen kẽ cho người bệnh uống một cốc sữa nhỏ có đường đặc thật nóng. Việc dùng thuốc nhất thiết phải theo chỉ định của bác sĩ.
    Stress & mất ngủ, căn bệnh của thời hiện đại:

    Stress là một phản ứng tự nhiên của cơ thể trước sự đe dọa và cũng là nguyên nhân của nhiều loại bệnh tật trong xã hội hiện đại. Phản ứng stress của cơ thể hoạt động giống như thiết bị báo động, khi có kích thích, hệ thống thần kinh giao cảm sẽ tăng tiết cortisol và adrenaline vào tim, tuần hoàn máu và ôxy tăng lên ở chân và tay, tạo ra phản ứng “sẵn sàng chiến đấu” cho phép chúng ta đối đầu hay thoát khỏi sự nguy hiểm. Phản ứng tự nhiên này vô cùng cần thiết, nhưng nếu quá mức hoặc vô hiệu thì thật nguy hiểm.

    Kiểm soát phản ứng stress như thế nào?
    Yếu tố gây stress có thể xuất hiện vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày, có thể là tắc đường, một cuộc tranh luận không có hồi kết, nhưng hệ thần kinh thường không phân biệt được một sự đe dọa về thể lực hay tinh thần hay cảm xúc.

    Điều quan trọng là thay đổi nhận thức và làm sáng tỏ nguyên nhân gây stress. Khi đó, phản ứng cũng sẽ thay đổi theo. Thư giãn là một biện pháp tốt để giảm stress.

    Stress thường đi đôi với rối loạn giấc ngủ:

    Rối loạn giấc ngủ là chứng bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới do nhiều nguyên nhân khác nhau, bệnh biểu hiện dưới ba hình thái chủ yếu là mất ngủ, ngủ nhiều và rối loạn nhịp thức ngủ.
    Giải pháp khoa học nào cho bạn?

    Bạn chú ý cuộc sống là cả một con đường dài, hãy biết cân bằng cuộc sống mỗi ngày. Nếu bạn có những biểu hiện nghiêm trọng liên quan tới rối loạn tiền đình, rối loạn giấc ngủ, stress, cần đến các phòng khám chuyên khoa để có phương pháp chẩn bệnh và trị bệnh hệ thống

    Việc khống chế những cơn chóng mặt “khủng khiếp” là rất cần thiết và phải kịp thời. Để người bệnh nằm nơi yên tĩnh, tránh ánh sáng mạnh. Chọn tư thế nằm thích hợp như: nghiêng trái hoặc phải, hoặc nằm ngửa. Nếu buồn nôn thì cho nôn hết ra, nhưng sau đó phải cho uống bù nước và điện giải; orezol là dung dịch được lựa chọn. Xen kẽ cho người bệnh uống một cốc sữa nhỏ có đường đặc thật nóng. Việc dùng thuốc nhất thiết phải theo chỉ định của bác sĩ.

    Tuy nhiên, thuốc chỉ giúp giải quyết tức thời những cơn chóng mặt cấp. Về lâu dài, bệnh nhân cần chủ động phòng ngừa bằng cách luyện tập thường xuyên các động tác sau:

    Tập đầu và cổ: Ngửa đầu ra sau, cúi đầu xuống, nghiêng đầu sang phải và sang trái hết cỡ. Quay đầu tròn chữ O bên phải rồi bên trái (khoảng 10-15 lần). Nằm ngửa trên giường, để một tay ở đỉnh đầu, một tay dưới cằm, thật mềm cổ, nhẹ nhàng vặn mạnh cằm về bên trái, rồi về bên phải, có tiếng kêu răng rắc là tốt. Sau đó, lồng các ngón tay với nhau để vào sau gáy, kéo mạnh gập cằm về phía ngực (khoảng 10 lần).

    Xoa mặt, mắt, tay: Hai bàn tay xiết mạnh vào nhau cho nóng, xoa đều vào mặt, hốc mắt và tai để tác động vào các nút thần kinh tai, mắt, mặt (khoảng 10 lần).

    Tập thể dục như bình thường nhưng phải làm được 3 động tác cơ bản sau đây: Chạy đi chạy lại nhẹ nhàng 8-10 phút. Đứng hơi dạng hai chân, cúi người xuống, đầu ngón tay chạm vào ngón chân cái, vung hai tay và quay mặt về bên trái rồi về bên phải hết cỡ (nhớ là quay cả mặt). Làm 10 lần.

    Rối loạn tiền đình là một hội chứng mà nguyên nhân do khá nhiều bệnh gây ra. Thông thường với người lớn tuổi thì khả năng rối loạn tiền đình do rối loạn tuần hoàn não như hẹp động mạch cảnh, xơ vữa động mạch, cao huyết áp gây ra. Một nguyên nhân nữa cũng hay gặp ở tuổi này là sự xuất hiện của các khối u trong hộp sọ như u não, u tiểu não, u dây thần kinh số 8...

    Muốn được chẩn đoán xác định, bệnh nhân cần phải được đo huyết áp, siêu âm động mạch cảnh xem có hẹp động mạch cảnh hay không. Nhiều trường hợp phải chụp X quang cắt lớp điện toán có dựng hình (CT scan) hay chụp cộng hưởng từ (MRI) để xác định có khối u trong sọ hay mức độ hẹp động mạch cảnh để xem khả năng xử lý bằng phẫu thuật.

    Ngoài các loại thuốc làm tăng cường tuần hoàn đến não, bệnh nhân có thể tập thêm yoga và một số môn thể dục nhẹ khác để có thể cải thiện tình trạng rối loạn tiền đình.
    Các bài tập cải thiện chứng rối loạn tiền đình

    Đối với những người bị hội chứng rối loạn tiền đình ốc tai lành tính hoặc bị nhạy cảm với các động tác xoay vòng (rối loạn tiền đình do tư thế), chúng ta cần thực hiện các bước tập luyện để tạo được sự thích nghi.
    Đối với những người bị hội chứng rối loạn tiền đình ốc tai lành tính hoặc bị nhạy cảm với các động tác xoay vòng (rối loạn tiền đình do tư thế), chúng ta cần thực hiện các bước tập luyện để tạo được sự thích nghi. Các bài tập để thích nghi được tập trung vào các mục đích:
    - Duy trì thăng bằng khi đứng yên
    - Duy trì thăng bằng khi lắc lư
    - Duy trì thăng bằng khi xoay chuyển
    - Duy trì thăng bằng khi đi lại
    Các bài tập được chia thành nhiều mức độ từ dễ đến khó. Theo một nguyên tắc là bắt đầu từ từ, động tác chậm đến nhanh dần, thời gian từ ngắn đến lâu hơn, tần suất lặp lại tăng dần.
    Bài tập mức độ 1:
    1.1. Động tác Romberg (rom-bơr)
    Bài tập này nên đứng vào gần vách tường, nhiều người có thể bị ngã. Đứng thẳng, hai chân chụm sát, hai tay buông thẳng sát vào người. Hai mắt nhắm. Đứng như vậy trong 30 giây. Sau đó lặp lại động tác. Động tác này có thể nâng lên sau đó, các bước như cũ, chỉ thay đổi là hai tay đưa thẳng về phía trước song song với thân người, song song với mặt đất.
    1.2. Bài tập lắc lư ra trước, ra sau
    Đứng thẳng, chân dang rộng bằng vai, hai tay buông thẳng
    Nhẹ nhàng ngã người ra trước rồi ra sau sao cho lực dồn xuống ngón chân và gót chân khi thực hiện. Không được giở ngón chân hoặc gót lên. Cố gắng sao cho cả vai và hông di chuyển cùng với nhau. Không khom lưng.
    Làm như vậy mỗi lần 20 nhịp. Động tác nâng dần lên theo biên độ di chuyển và tốc độ di chuyển. Ban đầu mở mắt, sau đó nhắm mắt.
    1.3. Lắc lư sang hai bên:
    Đứng thẳng, chân dang rộng bằng vai, hai tay buông thẳng
    Di chuyển cả thân mình (cả vai và hông cùng di chuyển) sang trái, sao cho toàn thân trụ trên chân trái, rồi sang phải, trụ lên chân phải. Không được nhấc gót và ngón chân lên.
    Lặp lại 20 lần. Động tác sau đó nâng lên bằng cách tăng tốc độ lắc, lặp lại nhiều lần. Mở mắt sau đó tập với mắt nhắm.
    1.4. Dậm chân tại chỗ:
    Thực hiện động tác dậm chân tại chỗ như người đi hành quân. lặp đi lặp lại.
    Bài tập mức độ 2
    2.1. Xoay người:
    Đứng thẳng tư thế thoải mái, hai tay buông.
    Xoay người nửa vòng tròn sang trái, dừng 10 giây, sau đó xoay trở lại bên phải, dừng 10 giây và động tác lặp lại. Nếu thấy chóng mặt thì nghỉ ở tư thế đó đến hết chóng mặt thì lặp lại.
    2.2. Cử động đầu:
    Đứng thẳng tư thế thoải mái, hai tay buông.
    Gập đầu ra trước lên xuống 10 lần
    Nghiêng đầu sang hai bên trái -phải 10 lần
    Xoay đầu sang trái-phải 10 lần.
    2.3. Đi bộ:
    - Bước nhanh tới phía trước 5 bước, dừng đột ngột. Nghỉ 10 giây, tiếp tục đi như vậy
    - Bước nhanh tới phía trước 5 bước, dừng đột ngột. Bước lui nhanh 5 bước, dừng đột ngột. Nghỉ 10 giây, lặp lại động tác.
    2.4: Đi bộ kết hợp động tác:
    - Đi bộ, vừa đi vừa xoay đầu sang trái rồi sang phải
    - Đi bộ, vừa đi vừa nghiêng đầu sang trái rồi sang phải
    - Đi bộ, vừa đi vừa gật đầu lên xuống
    - Đi bằng ngón chân và bằng gót chân với mắt nhắm.
    - Đi nối gót với mắt mở và nhắm
    Khoảng cách các động tác đi bộ tuỳ theo sự chịu đựng của mỗi người, ban đầu có thể chóng mặt, nên nghỉ cho hết rồi lặp lại. Khoảng cách đi tăng dần.
    3. Các bài tập hỗ trợ:
    3.1. Bài tập của Brandt-Daroff: Ngồi, thẳng lưng. Nằm thẳng ra với đầu ở tư thế nghiêng 45 độ. Giữ như vậy trong 30 giây rồi ngồi dậy. Động tác thực hiện trở lại, lần này đầu xoay sang bên đối diện. Lặp lại 5 lần.
    3.2. Lăn người. Nằm thẳng, hai tay thẳng lên trên đầu. Lăn người qua trái, rồi qua phải. lăp lại 5 lần.
    3.3 Gập người trong tư thế ngồi: Ngồi thẳng lưng, hai chân duỗi ra trước. Cúi đầu xuống cho mũi chạm đầu gối bên trái, ngẩng đầu lên rồi lại cúi xuống cho chạm đầu gối phải. Lặp lại 5 lần.
    3.4: Gập người trong tư thế đứng: Đứng thẳng, cố gập người xuống nhặt đồ vật ở trước mặt. Lặp lại động tác 5 lần.
    4. Các bài tập với mắt:
    - Di chuyển tròng mắt từ chậm đến nhanh dần theo các hướng: lên-xuống, sang hai bên, xoay vòng tròn.
    - Động tác này tập với tư thế ngồi, đứng và đi.
    - Tập nhìn cố định một vật để ở phía trước cách mắt một sải tay
    - Đứng lên ngồi xuống với mắt mở 5 lần rồi mắt nhắm 5 lần
    - Tung trái banh nhỏ từ tay nọ sang tay kia ở ngang tầm mắt
    Trên đây là những bài tập rất đơn giản, căn bản nhưng hiệu quả giúp bạn thích nghi được với các động tác xoay hoặc có liên quan đến cử động đầu nhiều, gây ra triệu chứng rối loạn tiền đình. Các bài tập được nâng dần lên về số lượng và thời gian tập. Ban đầu bạn thấy chóng mặt nhiều, nhưng sau đó sẽ quen. Khi tập luyện thấy chóng mặt và mệt mỏi tức là hệ thống thăng bằng của bạn đang được thử thách. Chỉ có thử thách là cách tốt nhất để tăng cường sức chịu đựng. Bài tập này dĩ nhiên là hoàn toàn có ích cho những người bị hội chứng Tiền đình do tư thế lành tính hoặc luyện tập để thích nghi với điều kiện môi trường luôn thay đổi tư thế hoặc di chuyển đầu như đi tàu xe.



  2. #22
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Nhận biết nguy cơ bệnh lý liên quan tới Stress

    Bs Trần Thị Hồng Thu

    Nói chuyện về vấn đề riêng tư của một người không phải là dễ, vì cái gọi là phong tục và nỗi sợ bị mất thể diện. Bởi thế mà sang chấn tâm lý (stress) gây ra do vấn đề nằm bên dưới lại biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể.

    Cán bộ y tế đa khoa có thể gặp nhiều người bệnh đến khám với những phàn nàn về: chóng mặt, đau tức ngực, đau tại các vị trí nhất định trên cơ thể hoặc đau đầu. Người bệnh có thể trình bày về cảm giác có vật gì đó chạy trong đầu, (một cảm giác khủng khiếp hơn cả đau đầu), để bày tỏ nỗi lo lắng của mình. Những người này dường như không có bệnh gì rõ ràng và không thể đưa ra những triệu chứng đặc thù cho bệnh nào cả. Người bệnh thường đã đi nhiều bệnh viện, làm nhiều xét nghiệm, qua tay nhiều thầy thuốc mà bệnh không thuyên giảm.

    Ai cũng có lúc gặp khó khăn khi phải giải quyết một vấn đề hoặc một tình huống xã hội trong cuộc sống. Vấn đề là ở chỗ họ có thể không kiểm soát chính bản thân mình một cách hoàn hảo, và thế là họ bộc lộ các triệu chứng sợ hãi, buồn nản, bệnh lý tâm thể (bệnh tâm thể là một bệnh cơ thể mà nguyên nhân gốc rễ của bệnh là do trạng thái tâm lý, chẳng hạn do một trục trặc về chuyện tình cảm, những rắc rối trong các mối quan hệ, lạm dụng rượu/chất gây nghiện). Loại bệnh lý này rất thường gặp trong chuyên khoa tâm thần, được gọi là lo âu, trầm cảm nhẹ hoặc rối loạn stress sau sang chấn.

    Stress: Phát sinh từ những trải nghiệm và/hoặc những điều kiện sống khó khăn gây nên tác động tâm lý . Bất kỳ tình huống nào ta phải giải quyết đều gây stress.
    Ai cũng có stress. Một số phải chịu đựng hậu quả của stress nặng nề hơn những người khác. Ví dụ, với cùng một loại stress thì người này có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn người kia.
    Khi ta cảm thấy bị đe doạ, stress có thể là một phản ứng bình thường: bắp cơ căng ra, tim đập nhanh và thở gấp. Khi mối đe doạ đã qua đi, thì bình tĩnh trở lại.
    Nhưng với một số người thì cảm giác căng thẳng và lo lắng vẫn tiếp diễn. Họ cảm thấy bất an như: lo lắng về điều kiện sống, con cái, hoặc về những xung đột trong gia đình mình. Những lo lắng và căng thẳng tiếp diễn này có thể gây ra các chứng đau dạng cơ thể và phàn nàn về kiểu bệnh "quái lạ" này.
    Nhận biết những người stress nặng là rất quan trọng. Vì stress có thể ảnh hưởng đáng kể đến toàn bộ cuộc sống của người đó bằng cách gây ra:
    - Nỗi đau tinh thần
    - Than phiền về sức khoẻ cơ thể
    - Thay đổi thái độ ứng xử
    - Những rắc rối trong mối quan hệ với những người khác
    - Những rắc rối tại nơi làm việc

    Những dấu hiệu và triệu chứng liên quan đến stress
    Thông thường thì không ai than phiền về stress một cách trực tiếp. Họ phàn nàn nhiều hơn về những triệu chứng cơ thể khác nhau. Vì stress, họ có thể mắc các chứng bệnh tâm thể như hen suyễn, loét dạ dày, tăng huyết áp, rối loạn tiêu hoá do đại tràng. Người đang có stress có thể có bất kỳ biểu hiện nào trong số triệu chứng sau:
    Về tâm trí:
    - Lo âu, hay sợ hãi và dễ nổi cáu
    - Cảm xúc thay đổi nhanh chóng
    - Giảm khả năng tập trung chú ý
    Về cơ thể:
    - Mệt mỏi
    - Đau đầu
    - Cảm giác căng thẳng cơ bắp
    - Ăn kém ngon miệng
    - Cảm giác đau không có nguyên nhân (đau lưng, đau mỏi vai gáy…)
    - Rối loạn kinh nguyệt
    Về hành vi:
    - Ngủ kém hoặc bồn chồn khó thư giãn
    - Lạm dụng chất gây nghiện bao gồm cả nghiện rượu
    - Khó tập trung chú ý vào một công việc nào đó
    - Phản ứng quá mức/ khó kiềm chế bản thân
    Về mối quan hệ với người khác:
    - Hay có cãi cọ và bất đồng
    - Phụ thuộc quá nhiều vào người khác
    - Hoài nghi

    Các rối loạn này có chữa được không?
    Đừng bao giờ quên rằng: khi người bệnh phàn nàn về những chứng đau nhức hoặc một rối loạn cơ thể nào đó thì họ cũng có thể có rối loạn về tinh thần, và một người bệnh tâm thần cũng rất dễ có thể mắc một bệnh nhiễm trùng.
    Mặc dù vẫn còn nhiều điều chưa được hiểu hết về bệnh tâm thần, song rất nhiều việc chúng ta có thể làm cho người bệnh tâm thần để có thể giúp cho nhiều người bệnh trở về với cuộc sống bình thường và sống hạnh phúc hơn.
    Với kỹ năng về tâm lý tiếp xúc mà thầy thuốc nào cũng có, một khi hiểu thấu nỗi niềm và tiền sử cá nhân của người bệnh, vấn đề tâm lý xã hội sẽ trở nên rõ ràng.
    Tâm thần và cơ thể luôn có mối quan hệ chặt chẽ. Một bệnh lý cơ thể có khả năng làm phát sinh những rối loạn tâm thần và rối loạn tâm thần có thể gây ra những rối loạn nặng về cơ thể. Tâm thần và cơ thể là không thể tách rời nhau.
    Chăm sóc sức khoẻ tâm thần trong thời đại tiến bộ ngày nay không chỉ là chữa cho những người bệnh kích động, phá phách mà còn là việc quan tâm bồi dưỡng trí lực cho tất cả mọi người, để ai cũng có được cuộc sống thoải mái hạnh phúc, giảm thiểu các hậu quả xấu do căng thẳng tâm lý (stress) gây ra.
    Chữa bệnh tâm thần cần nhiều phương pháp khác nhau: thuốc, tư vấn, liệu pháp tâm lý và các can thiệp khác không dùng thuốc. Không chỉ cán bộ y tế chuyên khoa tâm thần mới là những người duy nhất làm nhiệm vụ này. Sự tham gia tích cực của gia đình và cộng đồng cũng có vai trò quyết định trong việc hồi phục bệnh của bất cứ người bệnh tâm thần nào./.

  3. #23
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Rối loạn lo âu

    LO ÂU


    Hồi hộp trống ngực, run, mệt mỏi, căng thẳng cơ bắp, đau đầu, buồn nôn, vã mồ hôi, hoảng sợ, dễ cáu, ngất xỉu, dễ bị kích thích, khó chịu, khô miệng, chóng mặt, lo lắng, khó thở.

    Có thể bạn đang có stress hoặc lo âu.

    Giới thiệu:

    Lo lắng và sợ hãi là những cảm xúc bình thường của con người và thường xuất hiện khi ta phải đối mặt với stress. Tác nhân gây stress là những vấn đề làm bạn lo âu và stress là phản ứng của bạn với lo âu.

    Lo âu có thể là bình thường có thể là bệnh lý. Lo âu bình thường là những gì mà chúng ta cảm thấy khi gặp phải một tình huống gây stress từ bên ngoài chẳng hạn như mất việc làm, gặp rắc rối trong các mối quan hệ, hoặc bị ốm. Stress như thế này tồn tại với chúng ta cho đến khi vấn đề được giải quyết. Lo âu bình thường trở thành bệnh lý khi tình huống trở nên quá căng thẳng đến nỗi chúng ta không thể đảm đương được những công việc hàng ngày của mình nữa.

    Triệu chứng

    Khi ta lo lắng, cả cơ thể và tâm thần đều có các biểu hiện của stress; đó là căng thẳng, dễ nổi cáu, chóng mặt, cơn nóng bừng, cơn run, cơn hồi hộp trống ngực (tim đập thành hồi nhanh và mạnh), đầy bụng khó tiêu, xỉu, thở nhanh, ngủ kém. Tình trạng này có thể dễ dàng bị hiểu sai thành bệnh nặng, như bệnh tim hoặc ung thư, do vậy càng làm tăng thêm lo âu. Những cơn lo âu bất ngờ ngoài mong đợi còn được gọi là cơn hoảng sợ (phobia) và những cơn này rất khó chịu. Lo âu và hoảng sợ sau một thời gian có thể dẫn đến trầm cảm. Trầm cảm là trạng thái cảm xúc bị hạ thấp, ảnh hưởng đến khả năng tập trung chú ý, làm giảm mọi hứng thú và mất đi những mối quan tâm trước đây, làm cho ta mệt mỏi và chán chường.

    Tìm sự giúp đỡ

    Nếu nhận biết được stress và hiểu rõ về nó, mọi người thường giải quyết tốt khi gặp phải những tình huống này. Bạn sẽ rất vững tin một khi bạn biết rằng những triệu chứng stress cấp tính không gây hại gì và hiểu rằng những triệu chứng này sẽ không kéo dài. Không ít người luôn tìm cách né tránh việc đi khám chuyên khoa vì họ sợ bị người khác cho là người "hèn yếu" hoặc "điên". Thực ra, người mang bệnh lý lo âu hiếm khi mắc bệnh tâm thần nặng, và nếu được can thiệp sớm thì tốt hơn rất nhiều.

    Ảnh hưởng tới người khác

    Cho dù bạn bè và người thân họ hàng có thể hiểu được nỗi khổ mà lo âu gây ra cho bạn, nhưng nếu để tình trạng này kéo dài sẽ làm cho họ khó mà chấp nhận được, đặc biệt là khi nỗi sợ hãi lại có vẻ vô lý. Can thiệp hỗ trợ là điều quan trọng bậc nhất cho cả người bệnh và những người xung quanh. Những thông tin về stress và lo âu cũng rất có ích cho tất cả mọi người có liên quan.

    Sự thường gặp


    Những phiền toái do lo âu gây ra nằm trong số 10 chứng bệnh thường gặp nhất trong suốt cuộc đời của một người và trầm cảm là một trong số những nguyên nhân thường gặp nhất trong số những người đi khám bệnh.

    Nguyên nhân


    Khi có một sự kiện bên ngoài rất rõ chẳng hạn như tai nạn xe cộ hoặc mất đi mối quan hệ, thì đây chính là nguyên nhân gây bệnh. Lo âu thường qua đi khi nguyên nhân được tháo gỡ hoặc được giải quyết. Trong một số trường hợp stress nặng thì lo âu sẽ tiếp tục kéo dài sau sự kiện gây sang chấn. Đôi khi, người ngoài cuộc dễ dàng hiểu được nguyên nhân, nhưng đối với bản thân người chịu đựng thì lại không dễ gì nhận thấy được.

    Tuy nhiên, đôi khi chẳng có nguyên nhân gì rõ rệt vì có thể là sự kết hợp của các yếu tố gây sang chấn sau một thời gian. Ví dụ nhiều thay đổi về cuộc sống, tạo ra những sang chấn nhỏ tích luỹ trong nội tâm người bệnh và nguyên nhân này khó mà nhận biết được.

    GIÚP ĐỠ NGƯỜI LO ÂU

    Có rất nhiều cách khác nhau để giúp người có stress hoặc lo âu

    Nói chuyện

    Chúng ta nên nói chuyện với ai? Bạn bè, người thân trong gia đình - người nào mà ta đánh giá cao quan điểm của họ và họ là những người biết lắng nghe. Họ có thể có những khúc mắc riêng của họ, hoặc biết về một ai đó mà đang có vấn đề rắc rối, và như vậy có thể cùng chia sẻ tâm trạng với chúng ta và cho chúng ta cách nhìn nhận mới mẻ. Chúng ta có thể học cách mà họ đã trải nghiệm và cách họ giải quyết vấn đề như thế nào. Cũng có nhiều chuyên gia để nói chuyện - Bác sĩ gia đình, y tá, nhà tư vấn, cán sự xã hội hoặc nhà tâm lý học. Họ cũng có thể giúp ta liên lạc với những tổ chức cộng đồng có thể giúp ích cho ta.

    Thuốc


    Thuốc chữa khỏi bệnh cho một số người. Tuy nhiên, vì thuốc thì dễ kê đơn, cho nên nhiều người cú xu hướng lạm dụng thuốc. Hai loại thuốc chính là bình thản và chống trầm cảm. Ngày nay, các bác sĩ đã biết rõ nguy cơ phụ thuộc thuốc và chỉ cho dùng thuốc bình thản trong một thời gian ngắn. Điều này có thể giúp cho người bệnh vượt qua cơn khủng hoảng, nhưng những thuốc này không được dùng kéo dài trong suốt quá trình điều trị lo âu. Thuốc chống trầm cảm, tuy nhiên, có thể rất có ích cho một số trường hợp lo âu và cần phải được dùng trong thời gian dài hơn. Những thuốc chống trầm cảm thì không gây nghiện.

    Học cách thư giãn

    Thật là tuyệt vời khi ta biết được những công nghệ thư giãn, một số loại này chỉ mất một chút thời gian. Những kỹ thuật luyện tập này giúp chúng ta trút bỏ căng thẳng và mang những căng thẳng của chúng ta trở lại chịu kiểm soát của ta. Các nhà chuyên môn sẽ giúp chúng ta làm việc này, nhưng cũng có nhiều nơi khác mà chúng ta có thể tự tìm mua được băng video và sách cho mình. Biết rõ phương pháp thư giãn làm chúng ta thêm vững tin vì biết rằng ta đang có một phương tiện "sơ cứu" bên trong.

    Những phương pháp thư giãn bắt buộc phải tập đều đặn và nhất thiết phải tập mỗi khi có một mối đe doạ khủng hoảng tinh thần.

    Tự giúp đỡ

    Cùng với việc thư giãn theo băng video và sách, có nhiều cách khác để điều khiển và làm chủ stress của chúng ta… Thuốc và những công nghệ tập thiền, mặc tưởng, yoga và bài tập nhẹ nhàng đều đặn, chế độ kiêng khem, và nên tập trung vào những mối quan tâm mang tính sáng tạo thì tốt hơn là những mối quan tâm mang tính cạnh tranh, sử dụng thời gian hiệu quả hơn, nghe nhạc thư giãn, viết nhật ký thường xuyên để gạt bỏ những suy nghĩ tiêu cực đồng thời củng cố những cảm giác tích cực, và theo học những lớp học mang tính quyết đoán nếu thấy thích hợp. Bất cứ dạng nào của sự tự quản lý đều làm tăng khả năng giải quyết vấn đề của chúng ta hiệu quả hơn cũng như làm tăng thêm lòng tự tin của chúng ta. Nó trả lại cho chúng ta sức mạnh để điều chỉnh mà đôi khi chúng ta cảm thấy rằng mình đã đánh mất rồi.

  4. #24
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Rối loạn giấc ngủ

    Ngủ là một phần tất yếu và vô cùng quan trọng của cuộc sống. Giấc ngủ là một hoạt động có hiệu quả để đảm bảo sự sống của cơ thể và phục hồi sức khoẻ sau một ngày thức để làm việc. Giấc ngủ còn góp phần giúp cơ thể bài tiết ra hóc môn tăng trưởng giúp cho trẻ em phát triển và lớn lên. Chúng ta không thể sống mà không ngủ. Nếu mất ngủ trong một thời gian dài thì cơ thể chúng ta sẽ rối loạn và có thể dẫn đến chết.

    Giấc ngủ còn được xem như một tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá chất lượng của cuộc sống. Đối với người thầy thuốc, giấc ngủ của người bệnh được xem như là một tiêu chuẩn cần đạt được trong quá trình điều trị và tiên lượng bệnh.

    NGỦ BAO NHIÊU LÀ ĐỦ

    Trung bình một người trưởng thành cần 7h - 8h để ngủ. Ở trẻ em cần ngủ nhiều hơn để cơ thể bài tiết hoóc môn tăng trưởng. Trẻ mới đẻ cần 20h/ngày, càng lớn lên thời gian ngủ giảm dần, đến 6 tuổi trẻ cần 10h - 12h/ ngày để ngủ. Người già giấc ngủ ít hơn nữa, khoảng 5h - 6h/ngày. Cả cuộc đời, con người dành 1/3 thời gian để ngủ, 2/3 thời gian thức.

    TẠI SAO CÓ NGƯỜI NGỦ ĐƯỢC, CÓ NGƯỜI LẠI MẤT NGỦ
    Nguyên nhân của mất ngủ là gì? Để hiểu được nguyên nhân của mất ngủ, ta phải hiểu rõ cơ chế của giấc ngủ.
    Theo các nhà khoa học để đi vào giấc ngủ, cơ thể chúng ta có một cơ chế điều hoà hết sức tinh vi và chặt chẽ bao gồm sự kết hợp và tác động qua lại lẫn nhau của các yếu tố sau:
    1. Yếu tố thần kinh trung ương: Với sự tham gia điều hoà và chỉ huy của hệ thống cấu tạo lưới ở thân não đặc biệt vùng dưới đồi và đồi thị.
    2. Yếu tố thể dịch: Dưới sự phát động của hệ thần kinh trung ương các tuyến nội tiết và não bộ tiết ra các nội tiết tố, hoóc môn, chất trung gian dẫn truyền thần kinh có tính chất gây ngủ phong toả ức chế toàn bộ vỏ não.
    3. Yếu tố tâm lý, tâm thần: Trạng thái tinh thần thư thái yên tĩnh, nghỉ ngơi , không bị kích thích, nhiệt độ và ánh sáng thích hợp…
    Tóm lại, trong một khoảng thời gian nhất định (chu kỳ nhịp sinh học của mỗi người ) trong một môi trường thuận lợi, trong trạng thái mỏi mệt, có nhu cầu và ham muốn nghỉ ngơi, tinh thần thư thái và yên tĩnh. Trung ương thần kinh phát động các tuyến nội tiết và não bộ tiết ra các chất hoá học ức chế toàn bộ các hoạt động của não bộ, đưa não bộ vào trong một trạng thái ức chế lan tỏa khắp 2 bán cầu và vùng dưới vỏ não, đưa cơ thể vào trạng thái không còn ý thức và giấc ngủ được xác lập.
    Vậy nguyên nhân của mất ngủ có thể tóm tắt một số yếu tố sau:
    1.Yếu tố tâm lý: -lo âu, tức giận, sợ hãi, ghen tuông, hận thù, nghi kỵ, trầm uất….
    - Môi trường ô nhiễm, có nhiều tiếng động, nhiều ánh sáng.
    - Có sự thay đổi môi trường, thay đổi thời tiết, thay đổi vị trí địa lý….
    2.Yếu tố thần kinh: các bệnh lý tổn thương thực thể não và hệ thần kinh trung ương hoặc các bệnh cơ thể khác gây đau đớn, suy nhược, sốt…
    3.Các yếu tố thể dịch: biến đổi nội tiết tố, hóc môn do tuổi già, chửa đẻ hoặc mất cân bằng sinh hóa não do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá, cà phê, ma túy hoặc sử dụng các thuốc chữa bệnh có tác dụng kích thích thần kinh trung ương như vitamin nhóm B, hỗn hợp thần kinh, theophylin….

    RỐI LOẠN GIẤC NGỦ KHÔNG THỰC TỔN
    Ở đây chúng tôi đề cập đến loại mất ngủ mà không có nguyên nhân thực thể nào được tìm thấy nhưng nguyên nhân tâm lý và cảm xúc là yếu tố nổi bật. Theo phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD –10) nhóm này bao gồm:
    1.Rối loạn giấc ngủ: biến đổi về số lượng, chất lượng và thời gian ngủ do các nguyên nhân cảm xúc bao gồm mất ngủ, ngủ nhiều và rối loạn nhịp thức ngủ.
    2.Giấc ngủ thất thường: có sự kiện bất thường xảy ra trong lúc ngủ như trẻ con quấy khóc, mê sảng, mê mộng hoặc người lớn trong khi ngủ có miên hành, hoảng sợ, ác mộng.
    F51.0: Mất ngủ không thực tổn
    F51.1: Ngủ nhiều không thực tổn
    F51.2: Rối loạn nhịp thức ngủ
    F51.3: Đi trong lúc ngủ (chứng miên hành)
    F51.4: Hoảng sợ khi ngủ
    F51.5: Ác mộng

    ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ NHƯ THẾ NÀO
    Nguyên tắc:
    1.Trước hết phải tìm nguyên nhân của các rối loạn giấc ngủ. Từ đó tìm biện pháp giải quyết nguyên nhân.
    2. Áp dụng vệ sinh tâm lý giấc ngủ:
    -Tạo thói quen thức ngủ đúng giờ
    -Tránh dùng thuốc và các chất có thể kích thích thần kinh trung ương
    -Tránh các căng thẳng tâm lý
    -Chế độ làm việc, nghỉ ngơi, luyện tập hợp lý, hài hoà tránh quá mức
    -Trước khi đi ngủ dùng các phương pháp gây êm dịu cổ truyền như: bấm huyệt, xoa bóp, tắm nước ấm…
    3. Áp dụng các liệu pháp tâm lý (có sự hỗ trợ của các nhà tâm lý, thầy thuốc) như là thư giãn, luyện tập, âm nhạc,…
    4. Sử dụng các thuốc ngủ:
    Đây là biện pháp cuối cùng khi các phương pháp trên không có hiệu quả. Sử dụng thuốc ngủ phải có sự chỉ định của thầy thuốc. Không nên tự ý dùng thuốc ngủ vì có thể có tác dụng phụ hoặc lệ thuộc (nghiện) đặc biệt là các thuốc hướng thần.
    Hiện nay có nhiều thuốc được sử dụng để cải thiện giấc ngủ:
    1.Các thuốc có nguồn gốc thảo dược: sen vông, rotundin, cao lạc tiên…
    2.Các thuốc ngủ thuộc nhóm Benzodiazepine: seduxen, tranxen, rivotril, lexomil…
    3.Các thuốc ngủ không thuộc nhóm Benzodiazepine: stilnox, gardenal..,
    4.Các thuốc chống trầm cảm có tác dụng gây ngủ: amitriptylin, sertraline, fluvoxamine, remeron…
    5.Các thuốc an thần kinh: Aminazin, theralene, tisercin, olanzapin…
    Để điều trị rối loạn giấc ngủ một cách tốt nhất, thầy thuốc phải chọn được 1 thuốc ngủ thích hợp với tình trạng của từng người bệnh.

    Thuốc ngủ lý tưởng cải thiện giấc ngủ phải đạt được các tiêu chuẩn sau:
    -Khởi đầu tốt và duy trì tốt giác ngủ
    -Hiệu lực dài hạn mà không bị nhờn thuốc
    -Phạm vi điều trị rộng và không gây ngộ độc quá liều
    -Cải thiện chất lượng giấc ngủ, ngày hôm sau phải khoẻ khoắn và không mất tập trung
    -Thiết lập và duy trì giấc ngủ như bình thường
    -Không gây khó chịu và tác dụng phụ khác
    -Không gây tương tác với các thuốc và chất khác
    -Không gây tình trạng lệ thuộc thuốc (nghiện), có thể bỏ và cắt giảm được.

    PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐIỀU TRỊ MỚI CHỨNG MẤT NGỦ

    Uống thuốc khi cần

    Một số người bị mất ngủ cần phải uống thuốc ngủ đều đặn mới duy trì được giấc ngủ, nhưng đa số người mất ngủ đến khám bác sỹ không phải tối nào cũng mất ngủ. Do đó trong nhiều trường hợp nên dùng thuốc gián đoạn và chỉ uống thuốc khi người bệnh thấy cần thiết.

    Nguyên tắc này cho phép điều chỉnh việc điều trị phù hợp với từng người bệnh và ngăn ngừa tình trạng dùng thuốc ngủ liên tục hay dài hạn không cần thiết có thể dẫn đến nghiện, lệ thuộc đặc biệt các thuốc ngủ dòng hướng thần Benzodiazepine (Seduxen, Rivotril…)

    Trong mọi trường hợp điều trị mất ngủ kết hợp với cố gắng của bản thân, các biện pháp y học dân tộc cổ truyền khác để giảm tối đa việc dùng thuốc - là lời khuyên của thầy thuốc dành cho những người bị mất ngủ.

  5. #25
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Rối loạn cảm xúc lưỡng cực

    Bs Nguyễn Mạnh Hoàn


    Rối loạn cảm xúc lưỡng cực (RLLC) là gì?
    Rối loạn cảm xúc lưỡng cực là một rối loạn tại não bộ gây ra sự biến đổi cảm xúc không ổn định. Người bệnh chuyển từ cảm xúc hưng phấn ( hưng cảm) sang cảm xúc ức chế ( trầm cảm). Bệnh có tính chất chu kỳ xen kẽ giữa hưng phấn và ức chế.
    RLLC xảy ra với tỷ lệ xấp xỉ 1% dân số chung . Tỷ lệ nam và nữ ngang nhau, thường gặp ở mọi lứa tuổi thông thường từ 20 đến 40 tuổi. Phụ nữ thường có giai đoạn trầm cảm kéo dài hơn, ngược lại nam giới gian đoạn hưng cảm thường kéo dài hơn. Một phần ba (1/3) người bị RLLC có triệu chứng trong suốt cuộc đời. Những triệu chứng này có thể gây trở ngại tới khả năng lao động, học tập và các mối quan hệ gia đình, xã hội. Trong giai đoạn hưng cảm, người bệnh có thể tự gây tổn hại cho bản thân mình hoặc những người khác, hoặc có các xung động (kích động) mà bản thân họ không nhận ra là có thể nguy hiểm, nghiêm trọng như thế nào.
    Rối loạn cảm xúc lưỡng cực có thể dẫn đến trầm cảm hoặc các rối loạn khác làm cho người bệnh cách biệt với môi trường xung quanh, giảm chất lượng cuộc sống.

    Nguyên nhân của RLLC là gì?
    Nguyên nhân đích thực của bệnh hiện nay vẫn chưa biết. Tuy nhiên các nghiên cứu khoa học cho thấy có sự mất cân bằng sinh hoá trong não đặc biệt là hệ Norepinephrine, Serotonin và các chất sinh hoá khác. Yếu tố di truyền cũng được đề cập.

    Các biểu hiện triệu chứng RLLC:
    Các triệu chứng xuất hiện ở 3 nhóm
    - Hưng cảm
    - Trầm cảm
    - Hỗn hợp cả hưng cảm và trầm cảm


    Người bệnh pha hưng cảm có các biểu hiện:
    Hưng phấn, cởi mở hoặc cáu kỉnh
    Tự cao, nhiều ý tưởng
    ngủ ít hoặc mất ngủ
    nói nhiều
    Tư duy phi tán
    Dễ nổi cáu
    Dễ bị kích thích hoặc suy nhược
    Dễ có các hành vi xung động như mua sắm quá mức, lạm dụng rượu và ma tuý, quan hệ tình dục bừa bãi không nghĩ đến sự nguy hại…

    Người bệnh pha trầm cảm có các biểu hiện:
    Khí sắc trầm
    Thay đổi cân nặng
    Rối loạn giấc ngủ
    Mất sinh lực, dễ mệt mỏi
    Vận động chậm chạp
    Cảm giác kích thích hoặc suy nhược
    Cảm thấy vô giá trị
    Khó tập trung chú ý,
    Mất quan tâm thích thú trong công việc, sinh hoạt vui chơi giải trí
    Có ý tưởng tự sát

    Một số người bệnh có thể có kết hợp cả pha hưng cảm và trầm cảm

    Chẩn đoán
    Để chẩn đoán RLLC cần phải có sự thăm khám của Bác sỹ , thông qua phỏng vấn, trắc nghiệm, khai thác bệnh sử van các xét nghiệm có liên quan.
    Để có các bằng chứng khách quan, bác sỹ còn phỏng vấn gia đình, bạn bè người bệnh. Đôi khi các pha hưng cảm bị bỏ sót dẫn đến chỉ chuẩn đoán là bị trầm cảm đơn thuần. Thông qua đánh giá các triệu chứng bác sỹ sẽ kết luận trạng thái bệnh lý của người bệnh.
    Điều trị:
    Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu để điều trị bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Tuy nhiên các triệu chứng của bệnh có thể kiểm soát được.
    Việc điều trị bằng cả thuốc men và các trị liệu tâm lý.
    Trị liệu tâm lý bao gồm các trị liệu cảm xúc, hành vi, nhân cách và các rối loạn tâm thần khác bằng các buổi tâm lý cá nhân của các thày thuốc chuyên khoa tâm thần.
    Thuốc men cho người bệnh được các BS chỉ định tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của bệnh và khả năng đáp ứng của từng người bệnh. Sau giai đoạn cấp tính, người bệnh được uống thuốc điều trị duy trì để chống tái phát.

    Thuốc điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực:

    Loại thuốc Tác dụng
    Pha hưng cảm
    Carbamazepine( kháng động kinh) Chống hưng cảm và ổn định khí sắc
    Valproic Acid( kháng động kinh) Chống hưng cảm và ổn định khí sắc
    Antipsychotics( an thần kinh) Giảm kích động và rối loạn tư duy cũng như hoang tưởng ảo giác và hành vi bất thường.
    Benzodiazepine (seduxen) Kiểm soát hưng cảm, giảm kích động và trạng thái bất an, cải thiện giấc ngủ
    Lithium (chỉnh khí sắc) Giảm triệu chứng hưng cảm nhanh sau 2 tuần điều trị. Ổn định khí sắc
    Pha trầm cảm
    Antidepressants( Chống trầm cảm) Chỉ sử dụng cho pha trầm cảm, chỉ sử dụng trong 1 thời gian ngắn nếu không sẽ kích hoạt triệu chứng hưng cảm.
    Điều trị duy trì
    Anticonvulsant( kháng động kinh) ổn định khí sắc
    Antipsychotics( an thần kinh)
    Carbamazepine( kháng động kinh) ổn định khí sắc
    Gabapentin( kháng động kinh) ổn định khí sắc
    Lamotrigine( kháng động kinh) ổn định khí sắc
    Lithium(chỉnh khí sắc) ổn định khí sắc
    Topipramate( kháng động kinh) ổn định khí sắc
    Valproic Acid( kháng động kinh) ổn định khí sắc

    Những dặn dò của BS:

    Khám bác sỹ theo đúng hẹn kể cả khi bệnh đã thuyên giảm, điều này rất quan trọng để BS theo dõi và kiểm soát tổng thể.
    Thường xuyên kiểm tra xét nghiệm máu để biết nồng độ thuốc uống có an toàn và đạt hiệu quả điều trị không (Lithium). Kiểm tra chức năng gan thận định kỳ để có điều chỉnh kịp thời.
    Gia đình, bạn bè cảm thông chia xẻ, nâng đỡ người bệnh về tinh thần để điều chỉnh hành vi và phát hiện nếu có vấn đề bất thường.
    Bản thân người bệnh cần phải chia sẻ ,tham gia vào nhóm đồng đẳng hoặc nhóm tự giúp đỡ với những người có cùng cảnh ngộ.


    Nguồn: Sun Pharma Limited

  6. #26
    Thành Viên Chính Thức
    Ngày tham gia
    23-11-2013
    Bài viết
    185
    Cảm ơn
    95
    Được cảm ơn: 42 lần
    Hiện tại em chưa thoát......khỏi stress

  7. #27
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Bệnh tâm thần phân liệt

    Tâm thần phân liệt là gì?


    Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, có chiều hướng mạn tính với những đợt tái phát. Sau mỗi lần tái phát, tính nết người bệnh càng thay đổi: xa lánh người thân, hướng vào nội tâm, ngôn ngữ hành vi dị kỳ khó hiểu, có khi mang tính chống đối nguy hiểm. Khả năng tiếp xúc xã hội và khả năng học tập lao động giảm dần, người bệnh trở nên thờ ơ với tất cả.

    Bệnh có thể khởi phát nhanh trong vài tuần hay chậm trong nhiều tháng thậm chí nhiều năm, thường bắt đầu ở trẻ (15-35 tuổi). Tỉ lệ mắc khá cao trong xã hội (trong 100 người có 01 người bệnh tâm thần phân liệt). Có người bệnh chỉ bị một hoặc vài giai đoạn loạn thần trong đời, cũng có những người luôn tồn tại các triệu chứng loạn thần suốt đời.

    Trước khi bênh phát có thể nhận thấy các triệu chứng báo hiệu sớm: nhịp thức ngủ thay đổi, thói quen ăn uống thay đổi, mệt mỏi, hằn học , chống đối, thờ ơ với xung quanh, trở nên chán nản, lo lắng, sợ hãi hoặc có ý nghĩ ám ảnh. Gia đình cần nhận biết các dấu hiệu sớm trên đây, mời bác sỹ hoặc đưa đi khám để tránh được giai đọan cấp hay tránh phải nằm viện.

    Các triệu chứng của tâm thần phân liệt
    Các triệu chứng chủ yếu của tâm thần phân liệt gồm có:

    * Hoang tưởng: nghĩ và tin vào những điều sai lầm, không phù hợp với thực tế. Người bệnh tự cho rằng mình đang bị theo dõi, có tội hoặc bị điều khiển từ bên ngoài.
    * Ảo giác: thường gặp nhất là nghe thấy những giọng nói tưởng tượng với nội dung đe doạ, buộc tội hoặc nói chuyện với chính người bệnh, gặp ít hơn có thể là nhìn thấy, cảm giác thấy, ngửi thấy, nếm thấy thứ gì đó không có trong thực tế mà chỉ riêng người bệnh cảm nhận được.
    * Rối loạn khả năng tư duy: đang nói chủ đề này nhảy sang chủ đề khác mà không có sự nối tiếp logic. Lời nói bỗng dưng khó hiểu, rời rạc, lung tung.

    Các triệu chứng thứ yếu của tâm thần phân liệt gồm:
    * Mất ý muốn làm việc: người bệnh thường bị mất đi khả năng tham dự vào các công viẹc hàng ngày như giặt giũ, nấu ăn, … Sự thiếu năng động, thiếu sáng kiến hay thiếu động cơ là một phần của triệu chứng bệnh, không phải do lười biếng.
    * Cảm giác cùn mòn: khả năng thể hiện cảm xúc bị giảm sút và thường đi kèm với đáp ứng cảm xúc cùn mòn hoặc sự đáp ứng không thích hợp với sự kiện từ bên ngoài chẳng hạn các chuyện vui hoặc chuyện buồn.
    * Cách ly với xã hội: có thể do một số nguyên nhân như sợ bị ai đó làm hại, sợ bị giao tiếp do mất đi kỹ năng giao tiếp xã hội.
    * Khả năng nhận thức kém: một số trường hợp người bệnh không hề biết họ đang có hoang tưởng và ảo giác, nên thường không thừa nhận mình có bệnh, bởi vậy mà từ chối sự điều trị cần thiết và lợi ích cho họ.

    Nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt là gì?
    * Yếu tố di truyền: con của người bố hoặc người mẹ bị bệnh tâm thần phân liệt có 10% nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt và 90% không mắc bệnh này. Như vậy, nguy cơ mắc bệnh ở những người này cao gấp 10 lần tỉ lệ trong dân số nói chung.
    * Yếu tố sinh hoá: người ta tin rằng có một số chất, đặc biệt là chất dẫn truyền thần kinh trung gian được gọi là Dopamin. Sự mất cân bằng hoá học có thể do ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố di truyền.
    * Các mối quan hệ gia đình: không có bằng chứng nào gợi ý rằng các mối quan hệ gia đình gây ra bệnh. Tuy nhiên, một số người bệnh tâm thần phân liệt nhạy cảm với bất kỳ sự căng thẳng nào trong quan hệ gia đình mà đối với họ có thể liên quan tới sự tái phát của bệnh.
    * Môi trường: người ta nhận thấy rất rõ rằng những mâu thuẫn gây sang chấn này thường đóng vai trò như các sự kiện gây áp lực ở những người kém chịu đựng. Người bệnh tâm thần phân liệt trở nên lo âu, cáu kỉnh và không thể tập trung chú ý trước bất kỳ một triệu chứng cấp tính rõ rệt nào. Điều này làm cho các mối quan hệ xấu đi, có thể dẫn tới li dị hoặc thất nghiệp, những hiện tượng này sau đó thường bị đổ lỗi cho sự thúc đẩy bệnh, khi mà thực tế chính các biểu hiện bệnh lý đã gây ra sự khủng hoảng này. Bởi vậy, không phải bao giờ cũng xác định rõ ràng stress là yếu tố thúc đẩy hay là hậu quả của bệnh.

    Có phải người bệnh tâm thần phân liệt có nhân cách "bị chia cắt"?
    Không. Không có gì gọi là nhân cách bị chia cắt cả. Bệnh tâm thần phân liệt làm thay đổi chức năng tâm thần của người bệnh, đó là những rối loạn về từ duy và tri giác.

    Có phải người bệnh tâm thần phân liệt bị mất trí không?
    Không. Đây không phải là bệnh mất trí.

    Có phải người bệnh tâm thần phân liệt dễ gây nguy hiểm không?
    Không. Người bệnh tâm thần phân liệt nói chung không gây nguy hiểm khi đang được điều trị thích hợp. Tuy nhiên, một số ít người bệnh trở nên hung dữ do bệnh nặng mà không được điều trị. Thông thường hành vi nguy hiểm chỉ xảy ra với gia đình và bạn bè, rất hiếm khi với người không quen biết.

    Thuốc trị bệnh tâm thần phân liệt có gây nghiện không?
    Không. Thuốc làm giảm cường độ các triệu chứng. Các thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh tâm thần phân liệt thì không gây nghiện.

    Khi gia đình có người bị tâm thần phân liệt, cần lưu ý:
    * Không đưa người bệnh đến thầy cúng, thầy bùa.
    * Không tranh luận với người bệnh.
    * Không nên xiềng xích, trói hay nhốt người bệnh.
    * Cần đưa người bệnh đi khám bác sĩ tâm thần.
    * Chỉ có thể xoa dịu tình trạng bệnh bằng thuốc chống loạn thần theo đơn bác sĩ.
    * Không tự ý cho người bệnh ngừng uống thuốc hoặc tự ý thay thuốc khi không có ý kiến của bác sỹ.
    * Có thái độ dung nạp, kiên nhẫn giúp đỡ, hướng dẫn khuyến khích người bệnh làm các công việc thích hợp nếu họ mất khả năng nghề nghiệp cũ.
    * Tạo điều kiện cho họ được tham gia các hoạt động phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại bệnh viện và cộng đồng.

    Các phương pháp điều trị sẵn có:
    * Phương pháp điều trị hữu hiệu nhất cho bệnh tâm thần phân liệt là điều trị bằng thuốc và phục hồi chức năng tâm lý xã hội.
    * Việc sử dụng các thuốc chống loạn thần đánh dấu bước tiến cách mạng hoá trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt. Hiện nay, hầu hết người bệnh tâm thần phân liệt có thể không cần lưu viện nội trú mà có thể điều trị tại gia đình để tạo cơ hội hoà nhập cộng đồng.
    * Tâm thần phân liệt là một bệnh, giống như các bệnh cơ thể khác. Ví dụ: Nếu Isulin là thuốc cần dùng suốt đời cho người bệnh tiểu đường thì thuốc chống loạn thần là thuốc sử dụng suốt đời cho người bệnh tâm thần phân liệt.
    * Trong khi không có thuốc nào chữa khỏi được bệnh tâm thần phân liệt, có thể giảm bớt hậu quả của bệnh bằng cách dùng thuốc an thần kinh cẩn thận với sự hỗ trợ của các thầy thuốc chuyên khoa. Những khó khăn của người bệnh chỉ được giải quyết tốt nhờ sự trợ giúp của một đội ngũ cán bộ chuyên môn gồm các bác sỹ chuyên khoa tâm thần, các y tá chuyên khoa tâm thần, các nhà tâm lý, các nhà trị liệu bằng liệu pháp tâm lý, liệu pháp lao động…
    * Thực tế cũng cho thấy có khoảng 20 - 30% người bệnh tâm thần phân liệt chỉ có 1 hoặc 2 giai đoạn loạn thần trong suốt cuộc đời.

  8. #28
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Bệnh trầm cảm

    (Tài liệu được cung cấp bởi Viện nghiên cứu dược phẩm Servier)
    Trầm cảm dùng để mô tả một hội chứng bệnh lý được đặc trưng bởi khí sắc trầm ( cảm xúc buồn bã) cùng với một số triệu chứng khác duy trì trong một khoảng thời gian kéo dài trên 2 tuần.
    Trầm cảm được xem như là một trong số các loại bệnh gây tàn phế nặng nề nhất trên thế giới. Tần suất của trầm cảm thay đổi theo từng quốc gia, nhưng các triệu chứng và hội chứng trầm cảm sẽ gặp trong 6% dân số chung.
    Trầm cảm nếu không được điều trị sẽ dẫn đến hậu quả là chất lượng cuộc sống giảm, hạn chế khả năng làm việc cũng như sinh hoạt hàng ngày, làm cho các bệnh đa khoa khác nặng hơn, diễn biến xấu nhất của bệnh trầm cảm là ý tưởng và hành vi tự sát.
    Trong năm 2000, trầm cảm là 1 trong 4 bệnh gây tổn hại hàng đầu và chi phí lớn nhất không kể tử vong. Dự kiến đến năm 2020 trầm cảm sẽ là nguyên nhân tàn phế đứng thứ nhì đối với nhân dân ở mọi lứa tuổi.

    Tỷ lệ trầm cảm đặc biệt cao ở những người bị bệnh nội khoa:
    Bệnh lý đa khoa Tần suất trầm cảm
    Các triệu chứng đau mãn tính 50%
    Bệnh Parkinson 50%
    Ung thư 20-40%
    Tai biến mạch máu não 25-35%
    Bệnh tuyến giáp 20-30%
    Động kinh 20-30%
    Bệnh tim mạch 15-25%
    Bệnh thận 20%
    Bệnh gan mật 15%
    Đái tháo đường 15%
    Các triệu chứng của trầm cảm theo Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10(Mã F32)
    *Các triệu chứng chủ yếu của trầm cảm:
    Khí sắc trầm
    Mất quan tâm và thích thú
    Mất sinh lực, dễ mệt mỏi

    *Các triệu chứng khác của trầm cảm

    Giảm khả năng tập trung và chú ý
    Giảm sự tự tin và quí trọng bản thân
    Ý tưởng có tội và vô giá trị
    Bi quan về tương lai
    Ý tưởng hay hành vi tự sát hoặc tự huỷ hoại
    Rối loạn giấc ngủ
    Giảm cảm giác ngon miệng

    *Các triệu chứng khác trong trầm cảm:

    Mất quan tâm thích thú với các hoạt động mà mình ưa thích
    Không có cảm xúc với các sự kiện, môi trường vui vẻ xung quanh
    Dạy sớm hơn
    Trạng thái tinh thần rất xấu vào buổi sáng
    Có sự bồn chồn bất an hoặc trì trệ tinh thần.
    Ăn không ngon,
    Sụt cân,
    Giảm hoặc mất ham muốn tình dục.

    *Các triệu chứng cơ thể và tâm thần khác có thể gặp:
    Lo âu, ám ảnh
    Giảm trí nhớ
    Giảm khả năng tập trung và chú ý
    Nhức đầu
    Các hình thức đau nhức khác như đau ngực đau lưng, đau cơ bắp
    Ngứa
    Khô da
    Thị lực yếu
    Nhịp tim nhanh, hồi hộp, trống ngực
    Táo bón
    Phần lớn người bệnh trầm cảm có kèm theo các triệu chứng lo âu. Sự phối hợp giữa lo âu và trầm cảm có thể xem như là một qui luật, nó làm cho diến biến trầm cảm trở nên mãn tính hơn và người bệnh bị suy giảm về mặt chức năng nhiều hơn, có nguy cơ tự tử cao hơn.
    Trong thực hành lâm sàng tại các cơ sở chăm sóc sức khoẻ ban đầu đa khoa hoặc nội khoa nhiều người bệnh trầm cảm đã bị bỏ sót. Đó là vì các triệu chứng trầm cảm không điển hình hoặc các triệu chứng trầm cảm bị che lấp, giống các triệu chứng bệnh nội khoa khác. Các BS tâm thần gọi đó là dạng trầm cảm che dấu, trầm cảm ẩn.

    Các triệu chứng thường gặp của trầm cảm che dấu:
    Rối loạn giấc ngủ
    Đau nhức mơ hồ
    Đau đầu
    Đau lưng, đau giống đau thần kinh
    Rối loạn hô hấp như khó thở, hụt hơi…
    Rối loạn tim mạch như đau hay cảm giác khó chịu vùng quanh tim, hồi hộp, trống ngực…
    Rối loạn đường tiêu hoá như đau, ăn không tiêu, khó chịu thượng vị, đại tràng hoặc ỉa chảy, táo bón kéo dài…
    Nhiều lần khám nội khoa, làm rất nhiều xét nghiệm mà thày thuốc không tìm thấy một nguyên nhân thực tổn nào ở những người bệnh này.

    Nguyên nhân gây ra trầm cảm:
    Theo các chuyên gia SKTT nguyên nhân gây ra trầm cảm có thể là:
    -Yếu tố di truyền
    -Các sang chấn tâm lý (stress) và biến cố trong cuộc sống
    -Yếu tố mất cân bằng sinh hoá trong cơ thể do nhiều lý do

    Điều trị bệnh trầm cảm:
    Bệnh trầm cảm nếu không được điều trị có thể gây ra các hậu quả trầm trọng cho sức khoẻ người bệnh, ảnh hưởng đến mối quan hệ với gia đình và xã hội, làm giảm hoặc mất khả năng lao động, học tập, chất lượng cuộc sống, nghiêm trọng nhất là tử vong do tự sát.
    Điều trị bằng thuốc chống trầm cảm:
    Một số thông tin có liên quan đến việc điều trị bằng thuốc chống trầm cảm:
    - Trầm cảm là một bệnh tương đối phổ biến và hoàn toàn có thể chữa trị được
    - Thuốc chống trầm cảm là một phương pháp hữu hiệu để điều trị, tuy nhiên tất cả các thuốc chống trầm cảm đều có tác dụng rõ rệt chỉ sau 2-4 tuần điều trị. Thời gian điều trị phải liên tục từ 4-6 tháng hoặc lâu hơn nữa tuỳ theo đáp ứng của từng người bệnh.
    - Phải liên tục uống thuốc đúng liều, đúng thời gian và đúng thuốc bác sỹ đã chỉ định. Chỉ ngưng thuốc khi có ý kiến của BS. Điều này giúp cho bệnh thuyên giảm và khỏi, tránh tái phát.
    - Cần đến khám bác sỹ đều đặn và đúng hẹn ngay cả khi bệnh thuyên giảm hoặc khỏi.
    - Việc điều trị bằng thuốc chống trầm cảm không gây nên sự lệ thuộc vào thuốc tuy nhiên người bệnh cũng không nên tự ý sử dụng thuốc.
    Trị liệu tâm lý:
    - Tâm lý cá nhân, nhóm của các CB chuyên môn, tâm lý lâm sàng.
    - Tâm lý hỗ trợ, nâng đỡ chia sẻ, động viên của gia đình, bạn bè.
    - Thư giãn, luyện tập, nỗ lực cố gắng, kiên trì của bản thân chống lại bệnh tật.

  9. #29
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Rối loạn nhân cách Paranoia.
    Bác sĩ Lê Đào Nghĩa Đây là một rối loạn nhân cách khá đặc biệt vì nó gần với đời thường nên nhiều khi không được chú ý đến, nó thường dẫn đến những xung đột vợ chồng, xung đột với đồng nghiệp và dẫn đến kiện cáo…Rối loạn nhân cách này có những đặc điểm nổi bật sau đây: -Tính đa nghi và dễ tự ái quá mức. -Phán đoán sai lầm khó có thể phê phán được. -Sự tự đánh giá cao bản thân thái quá. Những bệnh nhân này thường từ chối rằng họ có thể sai lầm và họ dễ dàng kết tội người khác. Loại bệnh nhân này có những nét tính cách là nguyên nhân dẫn đến những rối loạn hành vi được mô tả với những thuật ngữ kinh điển sau: -Nhân cách hiếu chiến hay kiện cáo, dễ dàng tham gia vào các vụ kiện kéo dài. -Lí tưởng hoá đam mê điên cuồng hay còn gọi là nhân cách luôn đòi hỏi mong chờ hi vọng không tưởng. Họ thích bới lông tìm vết tìm cái sai, thích làm sáng tỏ công lí, hay sùng đạo quá mức. - Ghen tuông bệnh hoạn. Người ta thấy những người bị rối loạn nhân cách kiểu này hiếm khi tự mình đi khám bệnh. Thường thì chính người xung quanh như: vợ, chồng, thủ trưởng… yêu cầu họ phải đi khám vì những tình huống mà họ gây ra làm cho mọi người không chịu nổi. Chẩn đoán rối loạn nhân cách Paranoia thường hay gặp ở nam nhiều hơn nữ. Người ta không thấy yếu tố gia đình cũng như không thấy mối liên hệ của rối loạn nhân cách này với bệnh Tâm thần phân liệt. Những rối loạn nhân cách này hay gặp nhiều hơn một chút ở các cộng đồng thiểu số, ở những người nhập cư, ở những người khiếm thính và những người sống trong một chế độ chuyên chế giáo điều cứng nhắc thiếu dân chủ… Sau đây là các nét chính về mặt lâm sàng của rối loạn nhân cách Paranoia:1-Tính đa nghi và tự ái quá mức: Điều này dẫn đến việc lí giải hoàn toàn sai lệch các hành vi cử chỉ lời nói của người khác, các biểu hiện bình thường này được qui kết cho là làm nhục hay đe doạ…Bệnh nhân luôn sống trong sự lo sợ nghi ngờ bị người khác lừa gạt từ đó dẫn đến các mối nghi ngờ đối với bạn bè, đồng nghiệp và bạn tình. Họ dễ dàng cảm thấy bị phật ý mất lòng, dễ dàng biểu lộ tự ái và có thể phản ứng một cách quyết liệt như: nổi khùng, kích động tấn công hay thù hận dai dẳng. Do luôn nghi ngờ như vậy nên bệnh nhân luôn luôn ở trong tình trạng thái tâm thần “tỉnh táo cảnh giác quá mức”.2-Sự phán đoán sai lầm khó có thể phê phán được: sự phán đoán này dẫn đến những lí giải lệch lạc. Sự phán đoán vô lí này thường bất chấp thực tế. Bệnh nhân thường phán đoán theo một lôgíc riêng để bảo vệ quan điểm và những nghi ngờ của riêng mình. Người ta gọi là hiện tượng logíc lệch lạc của tư duy không thể khắc phục được. Từ đó họ từ chối tất cả những sự phê bình. Có tác giả gọi là sự “cứng nhắc tâm thần”.3-Sự tự đánh giá cao bản thân thái quá: Đây là một nét cơ bản ở đây làm cho bệnh nhân luôn có sự đánh giá hay đề cao quá mức bản thân và dẫn đến cảm giác tự tôn và tính cách độc tài chuyên chế và ngạo mạn của họ. Chính sự chắc chắn quá mức về bản thân làm cho bệnh nhân ít có khả năng tự phê phán. Họ luôn chắc chắn về quyền chính đáng và tính đúng đắn trong quan điểm của họ mà họ muốn thực hiện sự chia sẻ hay áp đặt quan điểm này cho người khác. Nếu ai phản đối thì họ biểu lộ sự coi thường khinh miệt. Những người thân thường là những người phải chấp nhận sự độc đoán của họ. Người ta nhận thấy cảm xúc của bệnh nhân thường thu hẹp. Họ có vẻ lạnh lùng, xa cách, không có khả năng hài ước vui đùa. Họ luôn muốn tỏ ra mình là người khách quan và hợp lí trên mọi phương diện. Nhưng bên dưới vẻ lạnh lùng xa cách là một sự kìm nén cảm xúc và căng thẳng cao độ. Nhưng đôi khi một số trường hợp che dấu sự kiêu ngạo của mình với biểu hiện bề ngoài giả khiêm tốn thái quá. Do ảnh hưởng trực tiếp từ các nét tính cách trên mà dẫn đến những hậu quả cho bệnh nhân đó là: sự kém hay không thích ứng với cuộc sống xã hội. Bệnh nhân thường sống cô độc ít quan hệ xã hội, ít quan hệ tình cảm. Họ thường hay gặp phải các xung đột với những người đại diện chính quyền (đồng nghiệp,thủ trưởng..). Họ thường có xu hướng thiên về các hoạt động biểu lộ sự quá khích như: cuồng tín, say mê chính trị hay tôn giáo, tham gia vào các giáo phái bí mật một cách kiên trì nồng nhiệt…Tuy nhiên do lối sống cách li nên một số người có khả năng tự học rất tốt, có khả năng trí tuệ cao nên có những thành công về mặt xã hội một cách đáng kinh ngạc. Các rối loạn của bệnh nhân thường mang tính chất khu vực tức là có khi chỉ ảnh hưởng đến một lĩnh vực nào đó trong đời sống sinh hoạt còn các mặt khác vẫn hoạt động bình thường.Các biến chứng của rối loạn nhân cách Paranoia. Trong cuộc đời của bệnh nhân thường hay gặp phải những biến chứng sau:-Bệnh nhân gặp phải những vấn đề như xung đột vợ chồng, xung đột với đồng nghiệp và gặp rắc rối với chính quyền dễ dẫn đến những hành vi tấn công gây thương tích thậm trí giết người liên quan đến pháp y tâm thần.-Bệnh nhân thường có phản ứng thái quá do ghen tuông bệnh lí dẫn đến bạo hành nhất là khi bệnh nhân lạm dụng rượu nghiện rượu.-Họ dễ bị trầm cảm do không đạt được những đời hỏi vô lí, đôi khi bệnh nhân tự sát vì thất vọng hay để chứng minh cho mọi người thấy sự đúng đắn ý tưởng của mình.-Đôi khi rối loạn nhân cách tiến triển nặng trở thành tới mức hoang tưởng dẫn đến phải nhập viện điều trịTuy nhiên một số bệnh nhân khi lớn tuổi và trong điều kiện môi trường thuận lợi ít xung đột các nét tính cách khác thường dần giảm đi nhiều và có một cuộc sống gia đình xã hội chấp nhận được.Điều trị rối loạn nhân cách Paranoia Thực sự đây là một trong những dạng rối loạn nhân cách khó điều trị nhất đúng như câu ngạn ngữ “giang sơn dễ đổi bản tính khó dời”. Tuy nhiên sự lựa chọn hàng đầu trong điều trị rối loạn nhân cách Paranoia là liệu pháp tâm lí cá nhân vì các bệnh nhân này thường phản ứng xấu với liệu pháp nhóm, các liệu pháp hành vi và các liệu pháp thâm nhập qua sâu vào cuộc sống đời tư của bệnh nhân. Với bệnh nhân rối loạn nhân cách kiểu này người làm liệu pháp tâm lí phải luôn thẳng thắn và trung thực trong định hướng của mình. Khi đối mặt với với sự kết tội hoặc khi phạm phải một sai lầm đáng ra không xẩy ra thì nhà liệu pháp tâm lí nên thừa nhận cái sai lầm và xin lỗi sẽ tốt hơn việc giải thích các sai lầm đó bởi trong thực tế với bệnh nhân này sự tin tưởng và sự khoan hồng tha thứ là không có. Cũng phải coi chừng sự lí giải phân tích quá vội vàng có thể dễ dàng gây phản ứng nghi ngờ ở bệnh nhân rối loạn nhân cách Paranoia. Đôi khi các hành vi của bệnh nhân có thể quá đe doạ như chửi rủa tấn công đến mức nhà liệu pháp tâm lí phải kiểm soát và đặt lại giới hạn với bệnh nhân. Việc phê phán sự kết tội phải được thực hiện một cách gắn liền với thực tế rõ ràng chắc chắn nhưng không mang tính làm nhục bệnh nhân. Nhà trị liệu tâm lí luôn giữ vai trò trung lập khi tiếp cận với bệnh nhân không ủng hộ cũng như không coi thường các ý tưởng lệch lạc của bệnh nhân. Với những bệnh nhân bị rối loạn nhân cách Paranoiac điều đáng sợ với họ khi nghĩ rằng những người mang đến sự giúp đỡ cho họ là những người yếu đuối kém cỏi hơn họ. Trong trường hợp bệnh nhân kích động hay lo âu người ta có thể dùng thuốc. Thuốc thường ưa dùng là các thuốc bình thản nhóm Benzodiazepin hoặc các an thần kinh liều thấp như Melleril, Haldol…có tác dụng tốt cho kích động và những ý tưởng gần giống hoang tưởng của bệnh nhân. Chú ý các thuốc dùng phải ít gây tác dụng phụ nếu không bệnh nhân sẽ chống đối bỏ điều trị vì bệnh nhân này rất nhậy cảm với tác dụng phụ của thuốc an thần. Hà nội ngày 22 tháng 12 năm 2009

  10. #30
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần

    Làm gi khi bị giật mí mắt?

    Tất cả các bạn có những lúc bị mí giật xảy ra một cách bất thần chẳng hiểu lý do, đôi khi kéo dài gây khó chịu và không biết làm sao chữa trị. Trong dân gian thường bảo "chắc là có ai nhắc nhở nên mới bị giật mí " sự thật thế nào? Chứng này do sự co giật không tự ý của các cơ ở mi mắt, nhất là cơ nâng mi. Thường chứng này không có hại gì vì các co thắt của cơ không gây tổn thương cho các cơ quan trong mắt, nó cho biết tình trạng kích thích quá độ của thần kinh và cơ thường thấy ở những người thần kinh dễ dao động, dễ bị co giật hoặc lúc mệt mỏi. Các cơ ở mặt và nhất là ở mắt thường rất nhạy cảm với stress. Hiện tượng co giật mi này cũng có thể biểu hiện trong lúc lo buồn hay bực tức và cũng có thể là do thiếu magnesium.
    Cách xử trí:
    Lúc bị giật mí hãy ngưng làm việc và nghỉ trong vài phút, nhất là lúc những người khác đang chú ý đến mình. Nếu có thể được đi bộ chừng 15 phút, thở đều đặn cả ngực lẫn bụng. Nếu giật mí xảy ra thường xuyên hãy thử điều trị với magnesium và cố gắng để tinh thần thư giãn, cơ thể cần nghỉ ngơi. Chứng này ít khi xảy ra trong những ngày nghỉ, những lúc vui chơi thoải mái. Nếu giật mí vẫn tiếp tục và gây hỗn loạn thị lực, nhìn mờ, hãy đi khám bác sĩ. Đây có thể là do hỗn loạn thần kinh, đôi khi khó chữa trị cần phải giải phẫu hoặc chích loại độc tố botulic để làm liệt thần kinh.
    BS. NGUYỄN CƯỜNG NAM
    - See more at: http://yhvn.vn/hoi-dap/lam-gi-khi-bi....F6VxFS9p.dpuf

  11. #31
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    CHỨNG CO THẮT

    Các dạng co thắt mí mắt hay co giật được liệt kê như sau:
    Giật rung cơ mí mắt cục bộ

    Giật rung cơ mí mắt cục bộ liên quan đến các cơn co thắt không tự chủ của các cơ mí mắt, phổ biến nhất là ảnh hưởng đến mi mắt dưới ở một bên mắt. Mặc dù những người bị mắc bệnh cảm thấy mí mắt hay mắt của họ như đang “nhảy”, điều này có thể không được chú ý bởi những người xung quanh trừ khi được quan sát kĩ. Nguyên nhân gây giật rung cơ mí mắt cục bộ thường vẫn chưa hiểu rõ. Nó có thể do sự kích thích của các sợi thần kinh trong cơ hay trong não. Nó thường bắt đầu vào những thời điểm căng thẳng quá mức hoặc mệt mỏi và có thể do uống rượu hoặc dung nạp nhiều lượng caffein. Nó thường xảy ra liên tục, kéo dài trong vài giờ trong cùng một thời điểm. Giật rung cơ mí mắt cục bộ thường tự hồi phục một cách tự nhiên sau một vài ngày đến một vài tuần, mặc dù đôi khi nó có thể kéo dài cho đến vài tháng. Điều trị thường không cần thiết trừ khi có các triệu chứng nghiêm trọng.Chứng co thắt mi

    Co thắt mi là một tinh trạng nhắm mắt không tự chủ ở cả hai bên mí mắt do sự co thắt của các cơ mí mắt. Nó có thể bị gây ra do tình trạng mắt bị kích thích, một số loại thuốc và các rối loạn ở não. Tuy nhiên, khi không có những vấn đề này xảy ra, tình trạng này được gọi là chứng co thắt mi thiết yếu. Nó xảy ra thường xuyên nhất ở các phụ nữ trên 50 tuổi và có thể bắt đầu với tần số chớp mắt tăng, đặc biệt khi phản ứng với ánh sáng mặt trời hay căng thẳng. Cuối cùng bệnh tiến triển thành co thắt mí mắt không tự chủ trong việc nhắm mắt. Mặc dù tình trạng này được cho là do rối loạn chức năng trong não, nguyên nhân chính xác vẫn chưa được xác định. Bệnh có thể nhẹ và được trải qua một cách dễ dàng như là sự gia tăng tỉ lệ nháy mắt với co thắt mí mắt không liên tục, hay tình trạng có thể trở nên nặng hơn dẫn đến người bệnh không thể đọc, xem tivi, trở nên bất lực trong công việc, tránh các tiếp xúc xã hội và có thể trở nên trầm cảm.Chứng co thắt nửa mặt

    Co thắt nửa mặt là tình trạng nhắm mắt không chủ động của các cơ ở một bên mặt. Xảy ra ở cả nam lẫn nữ, tuy nhiên nó thường xảy ra ở phụ nữ trung niên hay người già. Triệu chứng đầu tiên thường là co giật cơ mí mắt liên tục mà có thể dẫn đến nhắm một bên mắt. Sự co thắt này có thể dần dần lan ra đến các cơ ở phần thấp hơn của khuôn mặt, làm cho miệng bị méo qua một bên. Cuối cùng co thắt ảnh hưởng gần như liên tục đến tất cả các cơ ở một bên mặt. Co thắt có thể trầm trọng hơn gây ra sự mệt mỏi hay lo lắng. Hầu hết các trường hợp co thắt là do một mạch máu chèn ép lên thần kinh mặt. Hiếm khi, bệnh do khối u chèn ép lên dây thần kinh mặt. Với trường hợp này, bệnh nhân thường được chỉ định chụp hình não. Chứng co thắt nữa mặt thường dai dẳng, hiếm khi nó có thể tự hết.Phương pháp điều trị

    Giật rung cơ mi cục bộ thường không cần điều trị. Tuy nhiên, khi bệnh xảy ra liên tục, điều trị bằngthuốc hoặc tiêm sẽ được cân nhắc. Phẫu thuật cho các ca giật rung cơ mi cục bộ thường được cân nhắc nếu bệnh nhân không có tiến triển tốt sau khi được điều trị nội khoa và tiêm. Phẫu thuật cho bệnh co thắt nửa mặt được thực hiện bởi các bác sĩ ngoại thần kinh, tại đây mục đích của phẫu thuật là để giải ép trực tiếp giữa dây thần kinh mặt và các mạch máu chèn ép trên dây thần kinh mặt Bệnh nhân sẽ tự chọn lựa phương pháp điều trị sau khi đã được tư vấn kĩ bởi các bác sĩ chuyên khoa thần kinh nhãn khoa và/ hoặc phẫu thuật viên chuyên khoa thần kinh.
    http://www.snec.com.sg/about/international/vietnamese/eye-conditions-and-treatments/common-eye-conditions-and-procedures

  12. #32
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    6 dấu hiệu đáng ngạc nhiên khi bạn bị stress

    Có những dấu hiệu cho thấy bạn đang bị stress dẫn đến kiệt sức mà không phải lúc nào bạn cũng dễ dàng nhận ra!
    Bạn đang bị stress. Nhiều người cũng stress! Không có gì là ầm ĩ. Bạn có nghĩ rằng không phải nằm yên một chỗ như người đang ốm nghĩa là bạn ổn? Nhưng nếu bạn hiểu stress là triệu chứng ngầm dẫn đến trình trạng suy kiệt sức khỏe thì bạn sẽ có cách nghĩ khác.
    Nghiên cứu đã quan sát 150.000 người ở 142 quốc gia và nhận thấy những người thường xuyên bị stress có sức khỏe thể chất kém hơn. Stress không chỉ là một triệu chứng của vấn đề căng thẳng về tinh thần hoặc cảm xúc mà nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
    Stress là triệu chứng cảnh báo cơ thể bạn đang “sản xuất” các hóa chất gây căng thẳng thần kinh như cortisol. Nếu việc sản xuất hóa chất này xảy ra liên tục sẽ dẫn đến tình trạng phân hủy hệ thống miễn dịch, tiêu hóa, thần kinh và cơ xương.
    Còn gì tồi tệ hơn khi bạn nhận ra các dấu hiệu cho thấy sức khỏe thể chất của mình có vấn đề. Bạn sẽ có cảm giác lo lắng, rối loạn cảm xúc, ăn, ngủ kém... Nếu tình trạng này liên tục lặp đi lặp lại cũng như bạn không tìm cách phá bỏ chúng thì đó chính là cơ hội cho stress xuất hiện và đồng hành là những vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe như bệnh béo phì, trầm cảm, bệnh tim.
    Cách tốt nhất để giảm bớt stress là phải ngủ đủ giấc (7 đến 9 tiếng mỗi đêm), sử dụng thực phẩm lành mạnh, tập thể dục, tiếp cận với những người lạc quan, và tập trung vào những thứ trong tầm kiểm soát. Bạn cũng có thể học nhận ra được dấu hiệu khi cơ thể lên tiếng để biết cách vượt qua stress.
    Những dấu hiệu sau đây cho thấy bạn đang bị stress:
    Đau dạ dày
    Hệ thần kinh của não có liên quan đến hoạt động của đường ruột, do đó stress có thể “tàn phá” đường tiêu hóa một cách không thương tiếc. Phương thuốc tự nhiên tốt nhất để điều trị các bệnh về đường tiêu hóa do stress gây ra như táo bón, tiêu chảy, buồn nôn, hoặc nôn mửa là tập thể dục.
    Có vẻ như điều cuối cùng bạn muốn làm là chữa cho dạ dày hết đau khi bị stress, nhưng điều quan trọng hơn là bạn phải tìm cách làm tăng endorphin - một chất làm cho thần kinh ổn định và đường ruột hoạt động tốt hơn.
    Rụng tóc
    Từ 3 đến 6 tháng vừa qua, bạn bị stress trầm trọng như sa thải khỏi công ty, hay chia tay, bạn bàng hoàng nhận thấy tóc mình bị rụng nhiều một cách đáng kể, cả trăm sợi mỗi ngày. Trong phòng ngủ, nhà vệ sinh đâu đâu cũng thấy tóc rơi vãi.
    Nguyên nhân rụng tóc vì nội tiết tố androgen bị phóng to lên trong thời gian bị stress gây rối loạn nang lông và tình trạng rụng tóc là khó tránh khỏi.
    Không có một loại thực phẩm chức năng nào có thể chứng minh khả năng chống rụng tóc và khôi phục mái tóc trong trường hợp này cả. Chìa khóa chữa “bệnh” ở đây là chế độ dinh dưỡng cân bằng giúp tăng trưởng tế bào.

    Trích nguồn womenshealthvn.com
    Nguyen72Thanh

  13. #33
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    6 dấu hiệu đáng ngạc nhiên khi bạn bị stress

    Stress không chỉ là một triệu chứng của vấn đề căng thẳng về tinh thần hoặc cảm xúc mà nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
    Đau khổ với mụn trứng cá
    Cũng giống như mái tóc, da là nơi nhạy cảm với những nội tiết tố androgen; Stress có thể làm da nổi mụn. Bạn nên đi bác sĩ nếu bị mụn lâu ngày đến mức viêm da mạn tính gây nên sẹo. Cồi mụn là các sừng cứng làm cho da sần sùi. Việc nặn, hút mụn càng làm da viêm nhiễm trầm trọng hơn. Khi bạn đang bị stress, việc điều trị viêm da do mụn trứng cá sẽ không có kết quả.
    Các loại thuốc đặc trị mụn như xà phòng hay sữa rửa mặt có thể giúp làm sạch lỗ chân lông và tiêu diệt vi khuẩn gây mụn trứng cá. Bác sĩ da liễu có thể cho bạn sử dụng thuốc để điều trị viêm da, hoặc yêu cầu bạn thay đổi các loại thuốc, mỹ phẩm bạn đã dùng để cân bằng hormone. Khi trang điểm, dùng kem dưỡng ẩm và kem chống nắng, bạn cần chắc chắn rằng đó là những loại không gây tắc lỗ chân lông.

    Co giật mí mắt
    Thỉnh thoảng bạn bị những co thắt cơ thường xảy ra xung quanh mí mắt và kéo dài trong một vài phút. Stress là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây co giật mí mắt. Mặc dù, thực tế các bác sĩ cũng chưa xác định lý do chắc chắn.
    Khi mí mắt bị co giật, bạn nên nhắm mắt lại, cố gắng thư giãn và hít thở sâu. Hít vào bốn giây, giữ hơi thở của bạn trong bảy giây, sau đó thở ra trong tám giây. Lặp lại động tác trên bốn lần bạn nhé.
    Sử dụng nước mắt nhân tạo cũng có thể giúp giảm bớt sự co giật mí mắt, nhưng có thể lại làm khô mắt trầm trọng thêm, Anne Sumers, M.D., thuộc Học viện Nhãn khoa Mỹ, cho biết. Tệ hại hơn, nếu sự co giật mí mắt kéo dài có thể làm ảnh hưởng đến các phần khác trên khuôn mặt co giật theo.

    Đau lưng
    Khi bị stress, cơ thể tạo ra một loại hormone phản ứng mạnh cùng với chứng tăng huyết áp và nhịp tim, thắt chặt cơ bắp. Nếu bị căng thẳng thường xuyên, stress trở thành bệnh mạn tính dẫn đến tình trạng cơ bắp toàn thân bị đau nhức.
    Thường xuyên vận động là phương thuốc tốt nhất, vì vậy nếu bạn bị đau lưng vì stress, cần thường xuyên đứng lên đi lại xung quanh bàn làm việc cách mỗi giờ và thực hiện một số động tác như nâng hai cánh tay lên quá đầu, chạm vào ngón chân của bạn, xoay cổ và vai. Ngoài ra, bạn cũng có thể dành 10 đến 15 phút đi bộ xung quanh văn phòng hoặc bên ngoài một hoặc hai lần mỗi ngày.

    Phát ban
    Stress có thể âm thầm lặng lẽ gây nên bệnh phát ban. Lý do là trong giai đoạn bị stress hệ miễn dịch hoạt động kém hiệu quả. Ngoài ra, làn da lúc này cũng trở nên nhạy cảm hơn, làm cho chứng chóc lở hoạt động mạnh lên hơn.
    Chất làm mềm da, bao gồm các chất dưỡng ẩm nhẹ, có thể giúp chữa lành cả hai triệu chứng nhiễm trùng da do phát ban và chứng chóc lỡ. Nếu các dược phẩm không chữa lành được triệu chứng trên hoặc bạn bị phát ban kèm theo sốt, cúm, ra mồ hôi, các triệu chứng ớn lạnh khác… bạn cần đi khám bác sĩ ngay lập tức nhé.
    Trích nguồn womenshealthvn.com
    Nguyen72Thanh

  14. #34
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Tại sao mí mắt hay bị giật?

    Việc mí mắt đôi khi bị giật là một hiện tượng bình thường. Nó thường xảy ra khi cơ thể bị stress hay mệt mỏi. Nhưng nguyên nhân chính xác thì vẫn chưa được rõ.


    Ngoài việc giảm stress và có một giấc ngủ ngon hơn thì chẳng có biện pháp cụ thể nào để chữa chứng giật mắt. Nó sẽ tự mất đi lúc nào chẳng biết.
    Một số người cho rằng đắp một khăn mặt ướt, ấm lên mắt sẽ giúp ích. Bạn cũng có thể nên giảm lượng caffeine tiêu thụ để tránh tình trạng này.
    Tình trạng giật mí mắt không giống với hiện tượng co thắt cơ quanh mắt. Nếu bạn bỗng thấy một hoặc hai mắt muốn nhắm lại ngoài ý muốn, thì hãy đi khám bác sĩ ngay.
    M.T. (theo MSN)



  15. #35
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Mẹo kiểm soát stress

    Thứ hai 06/01/2014 12:29
    ANTĐ - Stress không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn khiến bạn không thể tập trung vào những công việc hàng ngày.
    Bệnh viện Cleveland (Mỹ) gợi ý một số cách sau để chống lại stress.

    - Tắm nước ấm hoặc đọc một cuốn sách hay
    - Tập các bài tập thở, đi mát-xa hoặc nhờ bạn đời xoa bóp lưng
    - Viết những suy nghĩ của bạn vào nhật ký hoặc nghe vài bản nhạc yêu thích
    - Chợp mắt một lúc hoặc dành thời gian tới thăm bạn bè hay đi dạo bộ
    - Tập các bài tập giãn cơ nhẹ nhàng

  16. #36
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Hoạt động tâm linh chống lại trầm cảm

    Thứ hai 06/01/2014 07:04
    ANTĐ - Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học tại Đại học Columbia, Mỹ cho thấy, ở những người theo một tôn giáo nào đó hay tích cực tham gia các hoạt động tâm linh có vỏ não dày hơn so với những người khác, và đặc tính này có thể ngăn ngừa bệnh trầm cảm.

    Theo các nhà nghiên cứu, não là cơ quan quan trọng, nó không chỉ kiểm soát mà còn điều khiển tâm trạng của chúng ta và niềm tin, tâm trạng của chúng ta cũng sẽ được phản ánh trong não bộ.


  17. #37
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Điều trị trầm cảm sớm có thể tốt cho tim

    Thứ tư 12/02/2014 10:24
    ANTĐ - Một nghiên cứu mới cho thấy điều trị trầm cảm ở giai đoạn đầu có thể giúp giảm nguy cơ bị đau tim và đột quỵ.
    Nhóm nghiên cứu đã đánh giá 235 người lớn có chẩn đoán bị trầm cảm. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên để dùng thuốc chống trầm cảm, liệu pháp tâm lý hoặc chăm sóc chuẩn.

    Ảnh minh họa
    Những bệnh nhân không có bằng chứng bị bệnh tim lúc bắt đầu nghiên cứu được dùng thuốc chống trầm cảm và liệu pháp trị trầm cảm gần như giảm một nửa nguy cơ bị đau tim hoặc đột quỵ trong thời gian nghiên cứu 8 năm so với nhóm chăm sóc chuẩn.
    Các bác sĩ từ lâu đã biết rằng trầm cảm là một yếu tố nguy cơ gây đau tim và đột quỵ. Tuy nhiên, có ít nghiên cứu tìm hiểu xem liệu điều trị trầm cảm có thể giảm nguy cơ bị các vấn đề tim mạch hay không.Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Psychosomatic Medicine số tháng 1.

  18. #38
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Saturday, 22 - February - 2014Những hệ lụy khi cơ thể bị stress

    Khi cảm thấy bị đe dọa, cơ thể sẽ sản xuất hormone: adrenaline và cortisol, lúc đó nhịp tim sẽ tăng lên. Một khi cuộc khủng hoảng trôi qua, cơ thể sẽ quay lại trạng thái bình thường.


    Thực ra cơ chế này không phù hợp với những căng thẳng kéo dài. Cortisol có tác dụng giúp cơ thể đối phó với vấn đề nguy cấp ngay lập tức. Tuy nhiên, khi cortisol sản sinh ra quá nhiều và thường xuyên sẽ khiến hệ miễn dịch bị suy giảm và về lâu dài sẽ có những ảnh hưởng nhất định trên cơ thể.
    Khả năng suy luận. Tiếp xúc lâu dài với cortisol có tác động tiêu cực đến kỹ năng lý luận và trí nhớ. Thí nghiệm trên chuột cho thấy các tế bào não tiếp xúc với nồng độ cao của cortisol thường xuyên sẽ gây ra sự mất tập trung và khả năng xử lý vấn đề.
    Huyết áp. Các gen liên quan đến sự thu hẹp các mạch máu bị ảnh hưởng bởi cortisol. Việc cortisol được cung cấp liên tục càng khiến các mạch máu thu hẹp, từ đó dẫn đến huyết áp bắt đầu tăng và những rủi ro sức khỏe liên quan tới huyết áp cao, đặc biệt là bệnh tim và đột quỵ có cơ hội bùng phát.
    Nghiến răng. Nghiến răng cũng được biết đến có liên quan đến căng thẳng. Các nha sĩ tại Mỹ vừa có một báo cáo về sự gia tăng 20% các trường hợp nghiến răng có liên quan đến việc suy thoái kinh tế toàn cầu, theo Healthcentral.
    Trầm cảm. Người bị trầm cảm nghiêm trọng cũng có nồng độ cortisol rất cao. Cortisol duy trì ở mức độ cao ngăn chặn khả năng dẫn truyền thần kinh trong não.
    Chế độ ăn uống. Căng thẳng lâu dài chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chế độ ăn uống và đã có một số bằng chứng cho thấy nồng độ cortisol cao dễ dẫn đến béo phì.
    Nhiễm trùng. Khi căng thẳng kéo dài, hệ thống miễn dịch tất yếu sẽ bị ảnh hưởng do cortisol sản xuất liên tục. Điều này dẫn đến suy yếu hệ thống miễn dịch và làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Dù căng thẳng được kiểm soát sau đó, nhưng nhiễm trùng vẫn có thể tấn công vào cơ thể bất cứ lúc nào.
    Bệnh tật. Liên quan đến các ảnh hưởng lâu dài của căng thẳng lên hệ thống miễn dịch, có bằng chứng cho thấy một số bệnh về gan, lympho và bệnh ung thư có cơ hội phát triển một khi hệ thống miễn dịch suy yếu.
    Nguồn: thanhnien

  19. #39
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    59,172
    Cảm ơn
    4,401
    Được cảm ơn: 14,183 lần
    Stress gia đình gây ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của con cái

    Cập nhật lúc 16h00' ngày 27/02/2014
    (KhoaHoc.com.vn) - Căng thẳng trong gia đình có thể dẫn tới hệ miễn dịch của trẻ em bị ảnh hưởng, một nhóm nghiên cứu đã chứng minh được điều này.

    Hệ miễn dịch của chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ chúng ta khỏi các vi khuẩn và virus. Cơ thể của chúng ta cũng được trang bị để xử lý những căng thẳng hàng ngày – đó là các căng thẳng chỉ kéo dài trong thời gian ngắn.
    Mặt khác, một tình huống khó khăn đầy áp lực và căng thẳng hoặc sự gia tăng căng thẳng kéo dài có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lên hệ thống miễn dịch.

    Loại stress kéo dài này có thể tăng lên khi một thành viên gần gũi trong gia đình qua đời hoặc khi những người lớn bị mắc kẹt trong các tình huống khó xử, không thể kiểm soát.
    Một nhóm nghiên cứu thuộc trường Khoa học sức khỏe tại trường Đại học Jönköping và Khoa Khoa học sức khỏe tại trường Đại học Linköping tại Thụy Điển cho thấy, tình trạng căng thẳng trong gia đình cao có thể dẫn tới hệ miễn dịch của trẻ em bị ảnh hưởng. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Journal of Immunology của Mỹ.



    Nghiên cứu này đã cho thấy con em của các gia đình có mức căng thẳng cao có nồng độ cortisol cao hơn. Cortisol là một loại horrmone corticosteroid (corticosteroid là một loại hormone loại steroid – tức là loại hợp chất hữu cơ tự nhiên được tổng hợp bởi các tuyến nội tiết trong cơ thể) được sản sinh bởi bộ phận tên là Zona fasciculata trên vỏ thượng thận (thuộc tuyến thượng thận). Đây là hormone vô cùng quan trọng và thường được xem là “hormone stress”. Điều này cho thấy, những trẻ em này cũng đã bị stress.Nghiên cứu cũng chỉ ra một sự thật đó là, mức độ stress cao gây ảnh hưởng tiêu cực tới hệ miễn dịch, điều đó không giống như khả năng chịu đựng khi cơ thể tiếp xúc với mức độ căng thẳng cao. Thay vào đó, hệ thống miễn dịch đã phản ứng với các chất trong cơ thể mà đáng ra các chất này phải được ở một mình, mà có thể liên quan đến một phản ứng tự miễn dịch.

    Nghiên cứu thực hiện đánh giá các gia đình có trẻ 5 tuổi (lấy từ nghiên cứu có tên ABIS(All Children in Southeast Sweden). Các bậc phụ huynh đã trả lời các câu hỏi liên quan đến tình trạng căng thẳng và các khó khăn tiềm năng có thể gây các tác động tới gia đình, ví dụ như việc ly hôn hoặc thất nghiệp. Các câu trả lời dẫn dắt các nhà nghiên cứu xác định một nhóm trẻ em có thể trải qua mức stress cao hơn trong gia đình của chúng, và một nhóm trẻ em lớn lên với mức độ stress bình thường.Nhóm nghiên cứu tại trường khoa học sức khỏe tại Jönköping sẽ tiếp tục nghiên cứu xa hơn nữa về nội dung này để tìm hiểu xem mức độ stress cao tới mức nào thì có thể gây ảnh hưởng tới cơ thể. Trong thời gian này, các nhà nghiên cứu sẽ quay lại nghiên cứu nhóm thanh niên trong độ tuổi 18 đến 22.“Chính những thanh niên này sẽ cho biết về những trải nghiệm tiêu cực trong đời sống hàng ngày của chúng và những trải nghiệm tiêu cực trong thời thơ ấu”, Maria Faresjö, giáo sư tại trường Khoa học sức khỏe, đồng thời là người sẽ dẫn đầu nghiên cứu tiếp theo cho biết.
    Phạm Thị Bích Thu (sciencedaily)

  20. #40
    Thành Viên Chính Thức nammoadidaphat's Avatar
    Ngày tham gia
    14-01-2014
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    viet nam
    Bài viết
    179
    Cảm ơn
    26
    Được cảm ơn: 135 lần

    10 cách xả stress hiệu quả


    10. Hít thở thật sâu
    Bạn sẽ ngạc nhiên bởi những cảm nhận tốt hơn sau khi hít thật sâu và thở ra từ từ đấy. Ít ra bạn có thể thấy lồng ngực mình tràn đầy sinh khí và mỉm cười tự hỏi tại sao lại làm vậy. Thật hài hước, trong phút chốc bạn có thể quên đi những khó chịu vừa xảy ra. Giờ với cái đầu bình tĩnh hơn, bạn sẽ sáng suốt tìm ra được giải pháp cho công việc của mình.

    9. Có ai đó trêu cười bạn
    Thật vui nếu bạn nhận được lời trêu đùa từ ai đó như: “Đố cậu biết cái gì có bốn chân mà không thể chạy được?” Dễ quá phải không, bạn có thẩm nghĩ đố thế cũng đòi đố “Cái bàn chứ cái gì nữa”. Những câu đùa vui nhỏ nhỏ sẽ giúp bạn thấy được ngoài những khó khăn của công việc vẫn còn nhiều điều hạnh phúc khác. Quan trọng là bạn biết ai sẽ là người đem lại cho mình những tiếng cười? Có thể là những người bạn thân hoặc chính đồng nghiệp ngay bên mình. Nhớ là luôn cởi mở và vui vẻ, luôn đem tiếng cười và sự thoải mái với những người bên cạnh, họ cũng sẽ làm vậy để giúp bạn vượt qua cơn stress chính mình.


    Hãy rời khỏi chiếc bàn làm việc, ra ngoài hít thở không khí trong lành cũng là một trong những cách giảm stress khá hiệu quả.

    8. Cởi giày của bạn ra
    Bạn không nghĩ cách này sẽ giảm stress ư? Nhưng thật tuyệt vời là nó có thể đem lại cảm giác dễ chịu cho mình. Không bị gò bó nóng bức trong chiếc giày và tốt hơn nữa nếu có quả bóng massage chân hoặc quả bóng tennis để bạn lăn lăn đôi bàn chân của mình trong lúc làm việc. Bạn cứ thử đi, đây là một cách khiến bạn sẽ cảm thấy thoái mái hơn nhiều đấy.

    7. Ăn một thứ gì đấy bạn thích
    Nếu căng thẳng quá, bạn có thể bù đắp cho cái dạ dày một thứ quà vặt yêu thích. Khi sở thích được thoả mãn nghĩa là bạn cũng giảm bớt được một gánh nặng rồi. Để tốt cho tâm trạng bạn cũng có thể nhấm nháp một miếng socola nho nhỏ chẳng hạn.

    6. Xem một video hài
    Nếu tại nơi làm việc có sử dụng internet, bạn có thể truy cập vào trang youtube v.v..., tìm kiếm một clip hài nào đó để thư giãn và xả stress. Chỉ cần vài phút tự cho phép mình nghỉ ngơi sau đó quay trở lại công việc, cảm giác mệt mỏi cũng bớt đi được phần nào đấy. Đừng để bận rộn quá khiến bạn quên đi điều này nhé.

    5. Ra khỏi ghế ngồi làm việc
    Chỉ cần đứng dậy và đi lại cũng là một cách loại trừ căng thẳng trong công việc. Điều này không chỉ giúp bạn giảm stress và mệt mỏi với máy tính hay hoa mắt với những con số trên giấy tờ mà còn giúp cơ thể vận động tránh được tình trạng mỏi cổ, đau lưng, nhức mắt vì ngồi lâu. Bạn có thể đi ra nhà vệ sinh hoặc ra máy bán hàng tự động để mua cốc nước. Thật dễ để thực hiện phải không?

    4. Giúp ai đó
    Bạn quá mệt mỏi và chỉ muốn ai đó giúp mình? Thay vì chờ đợi ai đó tại sao bạn không đứng lên và giúp đỡ người khác nhỉ. Có thể chỉ là những điều nhỏ nhặt như giúp đồng nghiệp tìm bút bị rơi hay bê hộ một khay nước. Không gian xung quanh bạn sẽ thay đổi hẳn, nụ cười vui vẻ của đồng nghiệp có được coi là đang giúp bạn có một không khí và tâm trạng tốt hơn không? Nhớ rằng: Không có sự giúp đỡ nào là quá thiệt thòi đâu.

    3. Đứng lên và vươn vai
    Điều này khá đơn giản, nhanh chóng mà đem lại hiệu quả cao. Chỉ cần bạn đứng lên, để tay lên trên đâu hít thở sâu hoặc vươn vai, cố gắng duỗi cả chân và ngón chân nữa nhé. Nếu trong điệu kiện có thể, bạn có thể nhảy lò cò như một cách chơi ô chữ ngày bé sẽ giúp các cơ được duỗi ra và cũng là một cách tuyệt vời để đốt cháy calo trong ngày.

    2. Làm việc có khoa học
    Nếu biết cách làm việc khoa học, bạn đã loại bỏ được yếu tố stress trong công việc rất nhiều rồi đấy. Làm việc khoa học diễn ra dưới nhiều hình thức như bàn làm việc có được sắp xếp gọn gàng hay không, lịch trình làm việc, sổ nhật ký, những ghi chú cần làm để tránh quên, mất tài liệu hoặc ngay cả việc bừa bộn cũng đem đến sự khó chịu cho bạn. Sắp xếp công việc khoa học giúp bạn giảm tải gánh nặng cho công việc rất nhiều.

    1. Đừng tự làm khổ mình
    Có thể bạn có tài, bạn không ngại khó nhưng nếu công việc đang chồng chất như núi thì cũng không phải là quá đáng nếu bạn từ chối một lời đề nghị làm thêm việc này việc kia từ sếp. Không nhất thiết phải làm mọi việc mà mọi người yêu cầu. Hãy nói không khi cần để công việc bạn làm đạt hiệu quả không chỉ về số lượng mà còn cần cả chất lượng.

    Quá ôm đồm hay nể nang mà việc gì bạn cũng “ngó” một tí rồi chẳng hoàn thành việc nào còn đem lại nhiều áp lực hơn. Đôi khi làm hỏng việc thì bạn còn đáng trách hơn là từ chối khi vượt quá khả năng. Con người cũng chỉ có giới hạn của nó và hãy luôn giữ cho mình được niềm yêu thích công việc nhé.

Trang 2 của 7 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •