Dạ. E nhìn vào biểu đồ để phán ạ. Sr a. Vậy tại sao giai đoạn cửa sổ lại là 12 tuần vậy anh?
Với lại pp xét nghiệm miễn phí của trung tâm phòng chống HIV Đà Nẵng có thể phát hiện kháng thể ở 7 tuần 3 ngày không anh?
Dạ. E nhìn vào biểu đồ để phán ạ. Sr a. Vậy tại sao giai đoạn cửa sổ lại là 12 tuần vậy anh?
Với lại pp xét nghiệm miễn phí của trung tâm phòng chống HIV Đà Nẵng có thể phát hiện kháng thể ở 7 tuần 3 ngày không anh?
Có nghĩa KQ XN HIV trắng đen ở 12 tuần thì từ 4 tuần đến 12 tuần gọi là thời gian cửa sổ
Nhiễm HIV thành AIDS có thể trãi qua một số giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1 là giai đoạn không triệu chứng (hay còn gọi nhiễm HIV cấp, thời kỳ cửa sổ, thời kỳ chuyển đổi huyết thanh). Người nhiễm HIV hầu như không có biểu hiện gì hoặc chỉ có ít những triệu chứng thông thường giống như cảm cúm, nhưng sau đó các triệu chứng này qua đi một cách tự nhiên, nên ngay bản thân người nhiễm cũng không “để ý” tới. Tuy nhiên cũng có trường hợp hạch to toàn thân dai dẳng.
Giai đoạn này thường kéo dài từ 2 tuần đến 3 tháng, đôi khi tới 6 tháng.
Vào đầu giai đoạn này cơ thể chưa kịp sinh ra kháng thể chống lại HIV (gọi tắt là kháng thể HIV) hoặc lượng kháng thể HIV còn ít nên các xét nghiệm thông thường (tìm kháng thể) không phát hiện được và kết quả trả lời là “âm tính”. Do vậy các nhà chuyên môn còn gọi giai đoạn này là “thời kỳ cửa sổ”
Đây là giai đoạn “nguy hiểm”, bởi không phát hiện được người nhiễm HIV qua các xét nghiệm máu thông thường (tìm kháng thể), mặc dù họ thật sự đã bị nhiễm HVI và họ hoàn toàn có thể “vô tình” truyền bệnh cho người khác mà không hề biết.
Giai đoạn 2 là giai đoạn có triệu chứng nhẹ, có thể kéo dài nhiều năm, trung bình là từ 8 – 10 năm và có thể lâu hơn.
Trong giai đoạn này, sức chống đỡ của cơ thể còn mạnh nên số lượng HIV trong máu còn thấp. Người mang HIV hầu như không có triệu chứng gì thể hiện ra bên ngoài và hoàn toàn khoẻ mạnh như người không nhiễm HIV, do vậy họ vẫn sống, làm việc, học tập và sinh hoạt bình thường, tuy nhiên họ có thể làm lây truyền HIV sang người khác.
Ở một số người nhiễm HIV trong giai đoạn này có thể có một số triệu chứng lâm sàng nhẹ, như sút cân mức độ vừa không rõ nguyên nhân (<10% trọng lượng cơ thể); nhiễm trùng hô hấp tái diễn (viêm xoang, viêm amidan, viêm tai giữa, viêm hầu họng); zona (Herpes zoster), trong dân gian thường gọi là giời leo do vi rút gây nên); Viêm khoé miệng; Loét miệng tái diễn; Phát ban dát sẩn, ngứa; Viêm da bã nhờn; Nhiễm nấm móng . . .
Giai đoạn 3 là giai đoạn nhiễm HIV có triệu chứng tiến triển (còn gọi là giai đoạn cận AIDS). Trong giai đoạn này, do hệ miễn dịch bắt đầu bị suy giảm nặng. Ở người nhiễm HIV xuất hiện nhiều triệu chứng bệnh khác nhau như sút cân nặng không rõ nguyên nhân (>10% trọng lượng cơ thể), tiêu chảy không rõ nguyên nhân kéo dài hơn 1 tháng, sốt không rõ nguyên nhân từng đợt hoặc liên tục kéo dài hơn 1 tháng, lao phổi, nhiễm trùng nặng do vi khuẩn (viêm phổi, viêm mủ màng phổi, viêm đa cơ mủ, nhiễm trùng xương khớp, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết), viêm loét miệng hoại từ cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng, nhiễm nấm Candida miệng tái diễn, bạch sản dạng lông ở miệng, thiếu máu, giảm bạch cầu, đôi khi giảm tiểu cầu không rõ nguyên nhân.
Giai đoạn 4 là giai đoạn nhiễm HIV có triệu chứng lâm sàng nặng (còn gọi là giai đoạn AIDS). Ở người nhiễm xuất hiện nhiều triệu chứng bệnh nặng như hội chứng suy mòn do HIV (sút cân >10% trọng lượng cơ thể, kèm theo sốt kéo dài trên 1 tháng hoặc tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng không rõ nguyên nhân), viêm phổi do Pneumocystis (PCP, viêm phổi do nấm), nhiễm Herpes simplex (một loại vi rút) mạn tính (ở môi miệng, cơ quan sinh dục, quanh hậu môn kéo dài hơn 1 tháng, hoặc bất cứ đâu trong nội tạng., nhiễm nấm Candida thực quản (hoặc nhiễm candida ở khí quản, phế quản hoặc phổi, lao ngoài phổi, Sarcoma Kaposi (một loại ung thư), bệnh do nhiễm Toxoplasma (một loại ký sinh đơn bào) ở hệ thần kinh trung ương, bệnh do Cryptococcus (một loại nấm) ngoài phổi bao gồm viêm màng não, bệnh do Mycobacteria avium complex (MAC) lan toả, bệnh lý não chất trắng đa ổ tiến triển, tiêu chảy mạn tính, bệnh do nấm lan toả, nhiễm trùng huyết tái diễn, U lympho ở não hoặc u lympho non – Hodgkin tế bào B, ung thư cổ tử cung, bệnh do leishmania (một loại trùng roi) lan toả không điển hình, bệnh lý thận do HIV, viêm cơ tim do HIV.
Dấu hiệu người nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS:
Nhiễm HIV được coi như đã chuyển sang giai đoạn AIDS khi ở người nhiễm HIV xuất hiện ít nhất 02 triệu chứng chính cộng 01 triệu chứng phụ sau:
Nhóm triệu chứng chính sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể, tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng, sốt kéo dài trên 1 tháng.
Nhóm triệu chứng phụ ho dai dẳng trên một tháng, nhiễm nấm Candida ở hầu họng, ban đỏ, ngứa da toàn thân, ban đỏ ngứa toàn thân, Herpes (nổi mụn rộp) Zona (giời leo) tái phát, nỗi hạch ở nhiều nơi trên cơ thể . . .
http://syt.dongthap.gov.vn/sitathongtinchamsocsuckhoe/timhieuhiv
ngungoc (05-03-2014),tôi ơi đừng tuyệt vọng (06-03-2014)
Một số loại sinh phẩm ELISA thế hệ 3, 4 thường dùng trong xét nghiệm HIV (Anti,Combo)
1.GENSCREEN® HIV ½ Version 2: Kỹ thuật ELISA thế hệ 3 ( phát hiện kháng thể kháng HIV).
Độ nhạy: 100%, Độ đặc hiệu: 99,98%.
Là xét nghiệm miễn dịch men dựa trên nguyên lý kỹ thuật “bánh kẹp thịt” (sandwich) để phát hiện các kháng thể kháng HIV-1 và/hoặc HIV-2 trong huyết thanh hoặc huyết tương người.
- Tấm plate gồm có 96 giếng đã được phủ lên bởi các kháng nguyên HIV tinh khiết (protein tái tổ hợp gp 160, và p25 một peptide tổng hợp giống epitope đặc hiệu HIV-1 nhóm O và một peptide giống epitope của protein vỏ HIV-2).
- Huyết thanh mẫu thử và huyết thanh chứng dùng để thử nghiệm được cho vào các giếng của tấm plate. Kháng thể, kháng HIV-1/2 nếu có trong huyết thanh mẫu thử sẽ gắn vào kháng nguyên HIV pha cứng trong các giếng của tấm plate.
- Các chất cộng hợp được tạo nên bởi: các kháng nguyên HIV gắn peroxidase (các peptides gp41 và gp36 tương tự epitope của các glycoprotein vỏ HIV-1 và HIV-2, một peptide tổng hợp tương tự epitope đặc hiệu HIV-1 nhóm O) (chất cộng hợp 2) được cho vào sẽ lần lượt gắn vào các kháng thể IgG, IgM, IgA đã bị bắt giữ trong các giếng. Sau khi ủ, phần mẫu còn lại trong giếng được hút bỏ và các giếng được rửa để loại bỏ các kháng thể không gắn.
- Sự có mặt của các phức bộ chất cộng hợp được thể hiện bằng sự thay đổi màu. Phản ứng được dừng lại và đo độ hấp thụ quang sử dụng máy đo ở bước sóng 450nm/620-700 nm. Độ hấp thụ quang đo được xác định sự có mặt của các kháng thể kháng HIV-1 và/hoặc HIV-2.
2.GENSCREEN® ULTRA HIV Ag-Ab: Kỹ thuật ELISA thế hệ 4 (phát hiện cả kháng nguyên và kháng thể).
Độ nhạy: 100%, Độ đặc hiệu: 99,75%.
Là xét nghiệm miễn dịch men dựa trên nguyên lý kỹ thuật “bánh kẹp thịt” (sandwich) để phát hiện kháng nguyên HIV và các kháng thể chống HIV-1 và/hoặc HIV-2 trong huyết thanh hoặc huyết tương người.
Đĩa xét nghiệm gồm có 96 giếng đã được phủ lên bởi các kháng thể đơn clon kháng p24 HIV-1 và các kháng nguyên HIV tinh khiết (protein tái tổ hợp gp 160, một peptide tổng hợp giống epitope đặc hiệu HIV-1 nhóm O và một peptide giống epitope của protein vỏ HIV-2).
Các chất cộng hợp được tạo nên bởi: các kháng thể đa dòng kháng kháng nguyên HIV đã được biotin hoá (chất cộng hợp 1); và Streptavidin và các kháng nguyên HIV gắn peroxidase (các peptides gp41 và gp36 tương tự epitope của các glycoprotein vỏ HIV-1 và HIV-2, một peptide tổng hợp tương tự epitope đặc hiệu HIV-1 nhóm O) (chất cộng hợp 2).
Chất cộng hợp 1 và huyết thanh hoặc huyết tương được hút vào các giếng xét nghiệm, các kháng nguyên HIV nếu có trong mẫu sẽ gắn vào các kháng thể đơn dòng đã gắn sẵn lên các giếng và chất cộng hợp 1. Các kháng thể kháng HIV-1 và/hoặc HIV-2, nếu có ở trong mẫu xét nghiệm, sẽ gắn vào các kháng nguyên đã gắn sẵn trong các giếng. Sau khi ủ, phần mẫu còn lại trong giếng được hút bỏ và các giếng được rửa để loại bỏ các kháng nguyên và kháng thể không gắn.
Chất cộng hợp 2 được cho vào các giếng, Streptavidin phản ứng với phức hợp Ab-Ag-Ab được biotin hoá và các kháng nguyên HIV-1 và HIV-2 tinh khiết đã gắn sẵn peroxidase lần lượt gắn vào các kháng thể IgG, IgM, IgA đã bị bắt giữ trong các giếng. Sau bước ủ thứ 2, phần không gắn với chất cộng hợp 2 được loại bỏ thong qua bước rửa. Sau khi ủ có sự có mặt của cơ chất, sự có mặt của các phức bộ chất cộng hợp được thể hiện bằng sự thay đổi màu. Phản ứng được dừng lại và đo độ hấp thụ quang sử dụng máy đo ở bước sóng 450nm/620-700 nm. Độ hấp thụ quang đo được xác định sự có mặt của kháng nguyên HIV hoặc các kháng thể kháng HIV-1 và/hoặc HIV-2.
3.Murex HIV Ag/Ab Combination: Kỹ thuật ELISA thế hệ 4 (phát hiện kháng nguyên và kháng thể HIV).
Độ nhạy: 100%, Độ đặc hiệu: 99,78%.
Là xét nghiệm miễn dịch men dựa trên nguyên lý kỹ thuật “bánh kẹp thịt” (sandwich) để phát hiện các kháng nguyên vỏ của HIV-1 (nhóm O), HIV-2 và kháng thể kháng p24 của HIV-1 trong huyết thanh hoặc huyết tương người.
- Tấm plate gồm có 96 giếng đã được phủ bởi các kháng nguyên HIV và kháng thể đơn dòng.
- Huyết thanh mẫu thử và huyết thanh chứng dùng để thử nghiệm được cho vào các giếng của tấm plate. Kháng thể, kháng nguyên HIV 1/2 nếu có trong huyết thanh mẫu thử sẽ gắn vào kháng nguyên HIV pha cứng trong các giếng của tấm plate.
- Các chất cộng hợp được tạo nên bởi kháng nguyên HIV và kháng thể đơn dòng liên hợp với chất tạo màu. Sau khi ủ, phần mẫu còn lại trong giếng được hút bỏ và các giếng được rửa để loại bỏ các kháng thể không gắn.
- Sự có mặt của các phức bộ chất cộng hợp được thể hiện bằng sự thay đổi màu. Phản ứng được dừng lại và đo độ hấp thụ quang sử dụng máy đo ở bước sóng 450nm/620-700 nm. Độ hấp thụ quang đo được xác định sự có mặt của các kháng nguyên và kháng thể kháng HIV-1 và/hoặc HIV-2. .
ngungoc (05-03-2014)
Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)